Author Archives: admin

Hiệp Hội Y Học TP.HCM, cơ quan Thuế và Công nghệ hỗ trợ phòng khám chuyển đổi thuế

Từ năm 2026, phần lớn phòng khám tư nhân sẽ chuyển đổi từ hình thức thuế khoán sang thuế kê khai với nhiều thách thức, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung – Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM khẳng định Hiệp hội luôn đồng hành giúp các phòng khám thực hiện đúng quy định, hạn chế rủi ro và tiết kiệm thời gian”.

Hiệp hội Y học TP.HCM đồng hành cùng các hội viên

Ngày 29/11, Hiệp hội Y học TP.HCM phối hợp với Thuế TP.HCM và Viettel TP.HCM tổ chức Hội thảo “Bồi dưỡng kiến thức Thuế – Hóa đơn điện tử – Giải pháp hỗ trợ chuyển đổi từ Thuế khoán sang Thuế kê khai”.

Sự kiện diễn ra tại Hội trường 272 Võ Thị Sáu, P.Xuân Hòa, TP.HCM thu hút hơn 400 đại biểu của Hiệp hội y học TP.HCM, Thuế TP.HCM, Viettel TP.HCM, Ngân hàng Vietcombank, BIDV đồng hành cùng đông đảo bác sĩ, hội viên đang làm việc tại các phòng khám tư nhân.

6(2).png
PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung – Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM khẳng định Hiệp hội luôn đồng hành cùng các hội viên để triển khai đúng pháp luật việc chuyển đổi thuế theo quy định mới.

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung – Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM cho biết, trong bối cảnh từ năm 2026, toàn bộ hộ kinh doanh bao gồm phần lớn phòng khám tư nhân sẽ chuyển đổi từ hình thức thuế khoán sang thuế kê khai theo quy định mới của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế, nhu cầu được hướng dẫn chi tiết về quy trình kê khai, lập và sử dụng hóa đơn điện tử, nộp thuế điện tử và minh bạch hóa dữ liệu tài chính trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Cùng lúc đó, ngành Y đang thực hiện quá trình chuyển đổi số toàn diện theo Thông tư 13/2023/TT-BYT, thúc đẩy triển khai bệnh án điện tử, chữ ký số y tế và các giải pháp phòng khám không giấy tờ. Việc đồng bộ giữa quản lý chuyên môn – tài chính – dữ liệu số vì vậy càng cần được quan tâm.

Hội thảo chính là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, nhằm đáp ứng nhu cầu của đông đảo hội viên trong bối cảnh ngành thuế đang đẩy mạnh chuyển đổi số và hoàn thiện hệ thống quản lý thuế theo hướng minh bạch, hiện đại và chuẩn hóa, bắt đầu thực hiện từ tháng 1/2026.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung nhấn mạnh, “Ngành Y đang thay đổi rất nhanh, và người bác sĩ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn cần giỏi quản trị. Việc chuyển đổi từ thuế khoán sang thuế kê khai là xu thế tất yếu, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức”.

Việc nắm vững các quy định mới của pháp luật về thuế không chỉ giúp các cơ sở hành nghề y tuân thủ đúng quy định, mà còn tối ưu hóa việc quản lý, xây dựng môi trường y tế tư nhân chuyên nghiệp và bền vững, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị bệnh nhân.

4.jpg
Hội thảo thu hút 400 đại biểu tham gia.

Sự chung tay giữa ngành Y, ngành Thuế và doanh nghiệp công nghệ sẽ giúp tạo ra hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện, giúp các phòng khám không chỉ tuân thủ quy định mà còn tiến tới quản trị số, vận hành tinh gọn và phục vụ người bệnh tốt hơn.

Trước bối cảnh này, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung khẳng định, “Hiệp hội Y học TP.HCM luôn đồng hành cùng các Hội viên cung cấp thông tin chính xác, cập nhật và hỗ trợ hết sức để các phòng khám thực hiện đúng quy định, hạn chế rủi ro và tiết kiệm thời gian”.

Chuyển đổi để hiểu và làm đúng pháp luật

Chia sẻ với Tạp chí Khoa học phổ thông, PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng Chủ tịch Hội Gan Mật TP.HCM, Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TP.HCM cho rằng, đây là một chính sách phải thực hiện nhanh và khá mới, trong thời đại số hóa Nhà nước khuyến khích tất cả các ngành nghề phải chuyển đổi để kiểm soát minh bạch hơn nhưng cũng là động lực giúp các đơn vị thực hiện bài bản, đúng quy định pháp luật.

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng cho biết: “Bước đầu đối với các phòng khám có thể triển khai chuyển đổi chưa quen, có thể gặp bối rối nhưng bắt buộc phải học, và tập dần thành thạo để sống và làm việc theo pháp luật”.

hoang1.png
PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng Chủ tịch Hội Gan Mật TP.HCM.

Bên cạnh đó ông cũng chia sẻ, nếu việc triển khai chuyển đổi từ thuế khoán sang thuế kê khai có thể được kéo dài thời gian hơn, tối thiểu khoảng 6 tháng thì việc thực hiện của các đơn vị sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn.

Trong khuôn khổ hội thảo, đại diện Thuế TP.HCM đã trình bày tổng quan về chính sách thuế mới, quy trình chuyển đổi sang thuế kê khai và các tình huống thường gặp đối với phòng khám. Viettel TP.HCM giới thiệu các giải pháp phần mềm quản lý phòng khám tích hợp hóa đơn điện tử, chữ ký số, hỗ trợ liên thông dữ liệu và chuẩn hóa báo cáo theo yêu cầu của cơ quan quản lý.

Các ngân hàng đồng hành như BIDV và Vietcombank chia sẻ thêm những giải pháp tài chính, thanh toán và dịch vụ hỗ trợ nghiệp vụ thuế giúp phòng khám tối ưu quy trình thu – chi.

Hội thảo ghi nhận hàng loạt câu hỏi thực tế liên quan đến kê khai doanh thu, xử lý hóa đơn điện tử, kết nối dữ liệu phần mềm, cũng như lộ trình triển khai bệnh án điện tử trong thời gian tới. Các câu hỏi đều được các chuyên gia giải đáp trực tiếp, giúp các phòng khám nắm rõ phương án xử lý và chuẩn bị tốt hơn cho năm 2026.

Hội thảo kỳ vọng giúp 100% đại biểu hiểu đúng quy định thuế mới và có thể triển khai hóa đơn điện tử đúng chuẩn. Ban Tổ chức cũng đặt mục tiêu từ 200 – 250 Hội viên có phòng khám đăng ký tìm hiểu hoặc triển khai các giải pháp chuyển đổi số sau sự kiện. Đây là bước tiến quan trọng nhằm tăng cường năng lực quản lý, minh bạch tài chính và tiến tới mô hình phòng khám số – không giấy tờ của ngành Y TP.HCM.

HỘI THẢO 29.11.2025: Bồi dưỡng kiến thức Thuế – Hóa đơn điện tử


THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO 
Bồi dưỡng kiến thức Thuế – Hóa đơn điện tử – Giải pháp hỗ trợ chuyển đổi từ Thuế khoán sang Thuế kê khai
Kính mời Quý Hội viên tham dự Hội thảo chuyên đề đặc biệt do Hiệp Hội Y Học TP.Hồ Chí Minh – Thuế TP.HCM phối hợp cùng Viettel TP.HHCM tổ chức.
Buổi hội thảo tập trung vào những nội dung thực tiễn nhất trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của ngành y:
📘 Nội dung nổi bật
💼 Thuế khoán → Thuế kê khai: Những thay đổi quan trọng Bác sĩ cần nắm
🧾 Hóa đơn điện tử & quy trình thực hiện đúng quy định
💻 Giải pháp số hóa toàn diện cho phòng khám
❓ Giải đáp trực tiếp từ Cơ quan Thuế – Viettel – Báo cáo viên chuyên ngành
⏰ Thời gian:
8h30 – 11h30, ngày 29/11/2025
📍 Địa điểm:
Hội trường 272 Võ Thị Sáu, P. Xuân Hòa, TP.HCM
🎟️ Tham dự miễn phí – Số lượng có hạn
Giữ chỗ ngay tại link đăng ký:
👉 https://forms.gle/Y4cfW9JZuo2eiXND8
Rất hân hạnh được đón tiếp Quý Bác sĩ và cùng đồng hành trong giai đoạn chuyển đổi quan trọng của ngành y!

Trào ngược dạ dày thực quản – Thủ phạm đứng sau nhiều cơn đau ngực “tưởng do tim”

Nhiều người nhập viện vì đau ngực tưởng nhầm bệnh tim, nhưng khám kỹ tim mạch hoàn toàn bình thường, thực tế, đây có thể là đau ngực không do tim, trong đó trào ngược dạ dày – thực quản là nguyên nhân tiêu hóa phổ biến nhất, đó là nội dung GS.TS Võ Thành Nhân chia sẻ tại Hội nghị khoa học thường niên do Hiệp hội Y học TPHCM tổ chức.

Nhận diện cơn đau thắt ngực và giải mã vì sao GERD dễ “đội lốt” bệnh tim

Theo GS.TS.BS Võ Thành Nhân – Chủ tịch Hội Tim mạch Can thiệp TPHCM, đau ngực không do tim (NCCP) là tình trạng đau ngực giống hệt cơn đau thắt ngực nhưng thực tế không xuất phát từ bệnh động mạch vành hay rối loạn tim mạch khác. Chẩn đoán NCCP chỉ đặt ra sau khi đã loại trừ nguyên nhân tim mạch. Trong số các bệnh ngoài tim gây ra NCCP, ba nhóm bệnh ở thực quản chiếm tỷ lệ nhiều nhất: trào ngược dạ dày – thực quản (GERD), rối loạn nhu động/co thắt thực quản, và tình trạng quá nhạy cảm giảm ngưỡng đau thực quản.

Về lâm sàng, cơn đau ngực không do tim thường xuất hiện sau xương ức, có thể lan ra cổ, lưng, hàm hoặc cánh tay, rất giống đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim. Điểm khác biệt: đau do tim thường xảy ra sau gắng sức, còn đau do GERD thường bùng phát sau ăn, khi nằm xuống hoặc ban đêm, kèm ợ nóng, ợ trớ hay khó nuốt. Cơn đau có thể kéo dài vài phút, hàng giờ, thậm chí lặp lại nhiều ngày, khiến việc phân biệt với bệnh tim mạch trở nên khó khăn.

GS.TS.BS Võ Thành Nhân – Chủ tịch Hội Tim mạch Can thiệp TPHCM trình bày báo cáo về đau ngực không do tim tại Hội nghị.

Các số liệu dịch tễ học cho thấy, NCCP chiếm trung bình 13% dân số theo tổng hợp nhiều nghiên cứu quốc tế. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ lệ này là 11%, Đông Nam Á 10% (bao gồm cả Việt Nam), trong khi Úc ghi nhận tới 16%. Một nghiên cứu cộng đồng tại Úc chỉ ra rằng NCCP phổ biến hơn ở người trẻ và giảm dần theo tuổi, nhưng ở phụ nữ 50 – 59 tuổi, tỷ lệ lại tăng cao. Đặc biệt, trong số bệnh nhân đau ngực không rõ nguyên nhân, có tới 1/3 trường hợp liên quan GERD, và trong các bệnh lý thực quản gây NCCP, GERD chiếm đến 2/3 số ca.

Về sinh lý bệnh, acid trào ngược xuống đoạn xa thực quản có thể kích thích các dây thần kinh cảm giác tạng, vốn có chung đường dẫn truyền trung tâm với thần kinh cảm giác đau ở tim, khiến cơn đau do GERD dễ bị nhầm lẫn với đau thắt ngực thật sự. Ngoài ra, tình trạng co thắt thực quản hoặc rối loạn nhu động cũng góp phần gây đau. Nghiên cứu trên World Journal of Gastroenterology còn cho thấy bệnh nhân GERD có thể rối loạn chức năng thần kinh tự động, ảnh hưởng đến tim và làm nặng thêm biểu hiện đau ngực.

GS.TS Võ Thành Nhân nhấn mạnh cần loại trừ nguyên nhân tim mạch trước khi quy kết đau ngực cho GERD.

Chẩn đoán và quản lý đau ngực: phải loại trừ tim mạch trước, GERD là nguyên nhân hàng đầu

GS.TS Võ Thành Nhân nhấn mạnh, nguyên tắc bất di bất dịch là loại trừ nguyên nhân tim mạch nguy hiểm trước tiên: nhồi máu cơ tim, bóc tách động mạch chủ, thuyên tắc phổi… Bác sĩ cần làm điện tâm đồ, men tim, siêu âm tim, nghiệm pháp gắng sức hay chụp mạch vành. Chỉ sau khi loại trừ mới nghĩ đến NCCP và GERD.

Với NCCP nghi ngờ liên quan GERD, bác sĩ sẽ tiến hành thăm dò qua ba bước chính. Đầu tiên là thử điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI) trong 1-2 tuần, nếu triệu chứng cải thiện thì nhiều khả năng liên quan đến GERD. Tiếp theo, bệnh nhân có thể được theo dõi pH thực quản lưu động kèm trở kháng để phát hiện tình trạng phơi nhiễm acid bất thường và đánh giá mối liên quan với triệu chứng. Cuối cùng là nội soi thực quản – dạ dày nhằm phát hiện viêm hoặc các tổn thương cấu trúc.

Phần báo cáo của vị chuyên gia thu hút đông đảo y bác sĩ tham dự

Trong số các bước này, thử PPI được xem là đơn giản và có giá trị cao nhất. Phân tích gộp từ nhiều nghiên cứu cho thấy điều trị PPI có độ nhạy 0,89 và độ đặc hiệu 0,88 trong chẩn đoán NCCP liên quan GERD. Đặc biệt, một nghiên cứu với Esomeprazole đã chứng minh rằng chỉ cần điều trị 12 bệnh nhân là có thể thấy rõ hiệu quả so với giả dược, khẳng định vai trò nổi bật của phương pháp này trong thực hành lâm sàng.

Về quản lý, PPI luôn là lựa chọn điều trị đầu tay, song song với thay đổi lối sống: giảm cân, kê cao đầu giường khi ngủ, tránh ăn tối muộn và hạn chế các thực phẩm kích thích. Nếu triệu chứng không thuyên giảm, bác sĩ cần nghĩ đến trào ngược không phải acid, rối loạn nhu động thực quản, hoặc thậm chí cân nhắc thuốc điều biến thần kinh nếu nghi ngờ đau ngực chức năng.

Một điểm quan trọng được GS.TS Võ Thành Nhân lưu ý: GERD chính là nguyên nhân tiêu hóa phổ biến nhất gây đau ngực không do tim. Nhưng trước khi kết luận, bác sĩ phải loại trừ thật kỹ bệnh lý tim mạch, bởi cơn đau do GERD trên lâm sàng có thể giống hệt đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim.

Sáng 21/9/2025, tại TPHCM, Hội nghị Khoa học thường niên Hiệp hội Y học TPHCM lần thứ I chính thức diễn ra với chủ đề “Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD): Điểm nối kết đa chuyên khoa”. 1.400 đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến cho thấy quy mô và chiều sâu học thuật của một diễn đàn liên ngành, nơi GERD được tiếp cận như điểm giao thoa của nhiều chuyên khoa, không chỉ riêng Tiêu hóa.

Nguồn: alobacsi.com

Bệnh trào ngược thanh quản – họng (LPR): Có phải là một biểu hiện của GERD?

Tại Hội nghị Khoa học thường niên do Hiệp hội Y học TPHCM tổ chức, GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu – Chủ tịch Hội Tai Mũi Họng TPHCM đã trình bày báo cáo chuyên đề về trào ngược thanh quản – họng (LPR). Qua đó cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế, dịch tễ, chẩn đoán và điều trị LPR, mà còn nhấn mạnh sự khác biệt của bệnh lý này so với trào ngược dạ dày – thực quản (GERD).

LPR: Từ nhận diện ban đầu đến gánh nặng dịch tễ và sự khác biệt so với GERD

GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu nhận định, LPR – tình trạng dịch từ dạ dày trào ngược lên thanh quản và hầu họng đã bắt đầu được chú ý từ những năm 1990 dưới góc nhìn chuyên ngành Tai Mũi Họng.

Ở Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ, nhưng dữ liệu quốc tế cho thấy LPR khá phổ biến: Mỹ khoảng 30%, Ấn Độ 11%, Trung Quốc 6-8%. Tại phòng khám Tai Mũi Họng, 10% bệnh nhân có biểu hiện LPR, và ở nhóm khàn tiếng, tỷ lệ này lên tới 50%. Chi phí điều trị LPR cũng cao gấp 5,6 lần so với GERD, phản ánh gánh nặng y tế và kinh tế đáng kể. Những số liệu này cũng củng cố nhận định: nhiều bệnh lý tai mũi họng dai dẳng, khó trị, thực chất có liên quan mật thiết đến tình trạng trào ngược.

Theo GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu, LPR là một thực thể bệnh lý riêng biệt, cần cách tiếp cận chẩn đoán và điều trị khác với GERD.

Một trong những điểm nhấn quan trọng được GS Kiên Hữu nhắc lại là: LPR là bệnh lý khác biệt so với GERD, dù hai tình trạng này có liên quan. Ít hơn 50% bệnh nhân LPR đồng thời có GERD, trong khi chỉ khoảng 32,8% bệnh nhân GERD xuất hiện triệu chứng LPR.

Nguyên nhân nằm ở độ nhạy cảm của niêm mạc. Niêm mạc thanh quản – họng nhạy cảm gấp 100 lần so với niêm mạc thực quản. Chỉ cần tiếp xúc dưới 1 phút với pH < 4 đã có thể gây tổn thương không hồi phục. Thậm chí chỉ ba đợt trào ngược mỗi tuần cũng đủ để tạo nên tổn thương nặng ở thanh quản. Chính vì vậy, nhiều bệnh nhân có LPR rõ rệt nhưng nội soi thực quản lại không ghi nhận bất thường.

Chẩn đoán và điều trị LPR: cập nhật từ đồng thuận quốc tế đến Việt Nam

Năm 2023, đồng thuận IFOS đã đưa ra những khuyến cáo đầu tiên về chẩn đoán và điều trị LPR. Theo đó, chẩn đoán LPR dựa trên triệu chứng (RSI, RSS), dấu hiệu nội soi họng thanh quản (RFS, RSA), đo dual pH-MII, đo pH họng, biomarker, chẩn đoán loại trừ và điều trị thử bằng PPI.

Trong đó, thang điểm RSI bao gồm 9 triệu chứng (khàn giọng hoặc có vấn đề về giọng nói, đằng hắng, nhiều dịch nhầy họng hoặc chảy mũi sau, nuốt khó thức ăn-dịch, ho sau khi ăn hoặc sau khi nằm, cảm giác khó thở, ho dai dẳng gây khó chịu, cảm giác có dị vật trong cổ họng, ợ nóng-đau ngực-khó tiêu hoặc ợ chua). RSI được đánh giá trên thang điểm từ 0-5 tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng.

Thang điểm RFS là điểm số do bác sĩ lâm sàng đưa ra theo các đặc điểm trên nội soi thanh quản. Ở những bệnh nhân LPR, do kích thích trào ngược lặp đi lặp lại trong thời gian dài, mô niêm mạc họng bị tổn thương và nhiều đặc điểm khác nhau như viêm thanh quản sau, phù nề, phì đại mép sau, sung huyết, dịch nhầy đặc thanh môn, phù nề dây thanh, phù nề thanh quản lan tỏa. Khi RFS > 7 và RSI > 13 có thể gợi ý LPR.

Từ cơ chế bệnh sinh đến dịch tễ, chẩn đoán và điều trị – báo cáo của GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu tại Hội nghị Khoa học thường niên do Hiệp Hội Y học TPHCM tổ chức đã làm rõ những thách thức của LPR

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là chưa có tiêu chuẩn vàng tuyệt đối. Các triệu chứng dễ chồng lấp, phương tiện đo lường chưa đủ độ nhạy – đặc hiệu, khiến chẩn đoán LPR còn nhiều thách thức.

Hội Tai Mũi Họng Việt Nam đã dựa trên đồng thuận IFOS 2023 để đưa ra phác đồ điều trị LPR năm 2025. Nguyên tắc chung là, điều chỉnh lối sống tránh rượu bia, thức ăn cay béo, ăn khuya; ngủ kê cao đầu. Điều trị thuốc, Alginat ± Magaldrat ± PPI trong 3 tháng, nhằm bao phủ cả trào ngược acid, acid yếu và không acid.

“Đặc biệt, chỉ cần một lượng nhỏ dịch trào ngược cũng có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho phần khí – thực quản trên. Vì vậy, thời gian điều trị LPR tối thiểu phải là 3 tháng và chỉ đánh giá sau 3 tháng, thay vì 8 tuần như trong phác đồ điều trị GERD. Và việc đánh giá hiệu quả dựa trên cải thiện triệu chứng ≥20% so với ban đầu” – GS Kiên Hữu cho biết.

Trong đó, PPI được dùng liều 2 lần/ngày, hiệu quả hơn 1 lần/ngày. Tuy nhiên, PPI đơn trị cho kết quả không chắc chắn, tỷ lệ thất bại khoảng 40%, đặc biệt trong các trường hợp LPR không acid. Việc tăng liều PPI vượt quá mức tối ưu không mang lại hiệu quả rõ rệt.

Alginate có vai trò quan trọng, vì ức chế túi acid, bất hoạt pepsin và acid mật. Đặc biệt, Alginate chiết xuất từ tảo L. hyperborean có hiệu quả trung hòa acid mạnh hơn các loại khác. Dùng đơn trị Alginate vẫn có thể cải thiện triệu chứng và hình ảnh nội soi rõ rệt. Phối hợp Alginate và PPI liều cao chưa chứng minh ưu thế vượt trội.

Qua những phân tích, GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu nhấn mạnh: LPR không chỉ là một biểu hiện của GERD mà là một bệnh lý riêng biệt, với cơ chế, biểu hiện và cách tiếp cận điều trị khác nhau. Cả acid, acid mật và pepsin đều có khả năng gây tổn thương nghiêm trọng cho niêm mạc họng – thanh quản vốn nhạy cảm. Trong tương lai, cần nhiều nghiên cứu sâu hơn để tối ưu hóa điều trị, đặc biệt cho các phân nhóm LPR không acid và hỗn hợp.

Thông điệp quan trọng mà chuyên gia chia sẻ, đó là LPR cần được nhận diện và quản lý như một thực thể riêng, với chiến lược chẩn đoán – điều trị phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân và giảm gánh nặng y tế.

>>> GERD: Thách thức chẩn đoán và điều trị từ góc nhìn Tiêu hóa

>>> Trào ngược dạ dày – thực quản: Vì sao chẩn đoán tại Việt Nam còn nhiều thách thức?

>>> Trào ngược dạ dày – “Thủ phạm ẩn” trong nhiều bệnh hô hấp

Sáng 21/9/2025, tại TPHCM, Hội nghị Khoa học thường niên Hiệp hội Y học TPHCM lần thứ I chính thức diễn ra với chủ đề “Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD): Điểm nối kết đa chuyên khoa”. 1.400 đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến cho thấy quy mô và chiều sâu học thuật của một diễn đàn liên ngành, nơi GERD được tiếp cận như điểm giao thoa của nhiều chuyên khoa, không chỉ riêng Tiêu hóa.

Nguồn: alobacsi.com

GERD: Thách thức chẩn đoán và điều trị từ góc nhìn Tiêu hóa

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) ngày càng được quan tâm do tính chất phức tạp, biểu hiện đa dạng và nguy cơ biến chứng nặng nề nếu chẩn đoán muộn. Trong báo cáo tại Hội nghị khoa học thường niên lần thứ I của Hiệp hội Y học TPHCM, PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định GERD bằng bằng chứng khách quan, đồng thời khẳng định đây là bệnh lý không chỉ thuộc phạm vi Tiêu hóa mà còn đòi hỏi cách tiếp cận đa chuyên khoa.

Trào ngược dạ dày thực quản: Bệnh lý phổ biến, cơ chế phức tạp, biểu hiện đa dạng

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) hiện được xem là một trong những bệnh lý tiêu hóa phổ biến và phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và đặt ra nhiều thách thức trong chẩn đoán cũng như điều trị. Dưới góc nhìn của chuyên ngành Tiêu hóa, PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng nhấn mạnh rằng GERD không thể chỉ xác định dựa trên các triệu chứng lâm sàng đơn thuần mà cần bằng chứng khách quan, thông qua nội soi hoặc đo pH thực quản 24 giờ. Cách tiếp cận này giúp phân biệt rõ giữa những triệu chứng ợ nóng, ợ chua mang tính chủ quan với tổn thương thực sự trên niêm mạc thực quản do tác động của acid và dịch trào ngược.

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng – Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM, Chủ tịch Hội Gan Mật TPHCM trình bày báo cáo chủ đề Bệnh trào ngược dạ dày thực quản dưới góc nhìn chuyên khoa Tiêu hóa tại Hội nghị khoa học thường niên lần thứ I, ngày 21/9/2025

Theo Chủ tịch Hội Gan Mật TPHCM, cơ chế bệnh sinh của GERD xuất phát từ sự mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ và yếu tố gây tổn thương niêm mạc thực quản. Các cơ chế tham gia gồm giãn thoáng qua cơ thắt thực quản dưới (TLESRs), giảm trương lực cơ thắt này, chậm thải acid và chậm làm rỗng dạ dày, sự hình thành túi acid sau ăn và thoát vị hoành, trong đó TLESRs được xem là yếu tố then chốt gây ra các triệu chứng trào ngược. Nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng trào ngược, điển hình là béo phì, thai kỳ, hút thuốc lá, vận động mạnh hoặc tư thế cúi gập người; đặc biệt ở bệnh nhân BMI > 30, giảm cân có thể cải thiện đáng kể triệu chứng.

Chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng, khi các thực phẩm chua, cay, nhiều dầu mỡ, chocolate, rượu bia, nước ngọt có gas hoặc caffeine đều làm nặng thêm bệnh, do đó việc tư vấn thay đổi lối sống luôn cần thiết. Ngoài ra, một số thuốc có thể làm giảm áp lực cơ thắt thực quản dưới (thuốc giãn phế quản, kháng cholin, chống trầm cảm ba vòng, nội tiết tố, an thần, thuốc hạ áp) hoặc trực tiếp gây tổn thương niêm mạc (NSAIDs, tetracycline, quinidine, bisphosphonates).

“Biểu hiện lâm sàng của GERD là kết quả phối hợp giữa mức độ tiếp xúc acid dịch vị và ngưỡng nhạy cảm niêm mạc. Có bệnh nhân dù lượng acid trào ngược ít nhưng triệu chứng nặng do tăng nhạy cảm thực quản, ngược lại, khi thời gian tiếp xúc acid > 6% trong 24 giờ nguy cơ viêm thực quản nặng, Barrett thực quản hoặc ung thư gia tăng. Trong tư thế nằm, dịch trào ngược còn có thể đi xa đến vùng hầu họng, điều này giải thích cho những biểu hiện ngoài thực quản” – PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng cho biết.

Một đặc điểm quan trọng khác là “túi acid” sau ăn, thường xuất hiện sau 15 phút và kéo dài đến 2 giờ, gây ợ chua, ợ nóng và khó chịu. Điều này cho thấy chỉ ức chế tiết acid chưa đủ, bởi pepsin và acid mật cũng góp phần gây tổn thương. Chính vì thế, GERD là bệnh cảnh đa dạng, liên quan nhiều chuyên khoa như Tiêu hóa, Tai Mũi Họng, Hô hấp, Tim mạch, Nha khoa, khiến việc chẩn đoán và điều trị trở nên phức tạp và dễ nhầm lẫn.

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng nhấn mạnh, trong chẩn đoán, triệu chứng ợ nóng được xem là đặc trưng, song cần để bệnh nhân tự mô tả nhằm tránh nhầm lẫn. Nếu bệnh nhân có ợ nóng hoặc ợ trớ trên hai lần mỗi tuần, khả năng GERD cao. Với bệnh nhân trẻ, dưới 50 tuổi, không có dấu hiệu báo động, có thể điều trị thử bằng thuốc ức chế bơm proton (PPI) trong 2-4 tuần.

“Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có dấu hiệu báo động như nuốt khó, nuốt đau, nôn ói kéo dài, xuất huyết tiêu hóa, sụt cân không chủ ý, thiếu máu thiếu sắt, sờ thấy khối bất thường vùng thượng vị, tuổi trên 50 hoặc có tiền sử gia đình ung thư thực quản – dạ dày, nội soi tiêu hóa trên là chỉ định cần thiết để xác định nguyên nhân. Khi nội soi ghi nhận tổn thương rõ rệt như viêm thực quản độ B, C, D theo phân loại Los Angeles, thực quản Barrett (tổn thương dài trên 1 cm), hoặc hẹp thực quản do trào ngược thì có thể chẩn đoán xác định GERD.

Ngược lại, nếu chỉ thấy viêm thực quản nhẹ độ A, thoát vị hoành nhỏ hoặc nội soi hoàn toàn bình thường (20-60% trường hợp), cần tiếp tục theo dõi, điều trị triệu chứng và đánh giá lại sau. Trong các tình huống triệu chứng không điển hình, không đáp ứng với PPI, hoặc trước khi chỉ định phẫu thuật chống trào ngược, cần tiến hành khảo sát thêm bằng đo pH thực quản 24 giờ hoặc đo trở kháng – pH để khẳng định tình trạng trào ngược” – chuyên gia chia sẻ.

Điều trị GERD: Từ PPI nền tảng đến các liệu pháp mới

Mục tiêu điều trị GERD là giảm triệu chứng, làm lành tổn thương, ngừa biến chứng và cải thiện chất lượng sống. Biện pháp đầu tiên là thay đổi lối sống: giảm cân, ngưng thuốc lá, tránh ăn sát giờ ngủ, nâng đầu giường, hạn chế thức ăn kích thích trào ngược và duy trì giấc ngủ bình thường.

Trong điều trị nội khoa, PPI được xem là nền tảng nhờ khả năng ức chế acid mạnh và kéo dài. Một liệu trình 8 tuần có thể làm giảm triệu chứng ở 57-80% bệnh nhân và làm lành viêm thực quản trên 85% trường hợp. Nếu bệnh nhân chỉ đáp ứng một phần, có thể tăng liều PPI lên 2 lần/ngày hoặc điều chỉnh thời điểm uống. Với những trường hợp cần điều trị lâu dài, nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả hoặc điều trị ngắt quãng để hạn chế tác dụng phụ.

GERD không chỉ là vấn đề của Tiêu hóa, mà còn là thách thức đa chuyên khoa” – chia sẻ nổi bật của PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng tại Hội nghị khoa học thường niên do Hiệp hội Y học TPHCM tổ chức

Ngoài ra, PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng cho rằng, điều quan trọng là cần đánh giá sự tuân thủ của bệnh nhân, đồng thời lưu ý, uống PPI 30-45 phút trước bữa ăn giúp cải thiện đáng kể hiệu quả kiểm soát acid. Một số trường hợp có thể bổ sung thêm thuốc kháng H2, alginate, sucralfate, thuốc tăng nhu động hoặc baclofen để kiểm soát triệu chứng.

Xu hướng mới trên thế giới đang ghi nhận các thuốc ức chế acid cạnh tranh kali (P-CABs) với hiệu quả vượt trội so với PPI, mặc dù tại Việt Nam nhóm thuốc này chưa phổ biến, chuyên gia chia sẻ thêm thông tin. Song song đó, phẫu thuật chống trào ngược được chỉ định cho những bệnh nhân có bằng chứng GERD rõ ràng, không muốn dùng thuốc lâu dài hoặc tổn thương thực quản vẫn tồn tại dù đã điều trị nội khoa tối ưu, đặc biệt trong các trường hợp thoát vị hoành lớn.

Báo cáo của PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng tại Hội nghị khoa học thường niên lần thứ I của Hiệp hội Y học TPHCM đã khắc họa toàn cảnh về GERD – từ cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng, phương pháp chẩn đoán đến chiến lược điều trị. Điểm nhấn của bài báo cáo chính là nhấn mạnh sự cần thiết phải có bằng chứng khách quan trong chẩn đoán, đồng thời cho thấy tính đa chuyên khoa trong cách tiếp cận và điều trị bệnh lý này.

GERD không còn chỉ là vấn đề của chuyên ngành Tiêu hóa mà còn liên quan mật thiết đến Tai Mũi Họng, Hô hấp, Tim mạch, Nha khoa và cả sức khỏe toàn diện của người bệnh. Do vậy, việc quản lý GERD hiệu quả đòi hỏi một chiến lược điều trị cá thể hóa, kết hợp thay đổi lối sống, điều trị nội khoa, ngoại khoa khi cần thiết và phối hợp đa chuyên khoa nhằm mang lại lợi ích tối ưu cho người bệnh.

Sáng 21/9/2025, tại TPHCM, Hội nghị Khoa học thường niên Hiệp hội Y học TPHCM lần thứ I chính thức diễn ra với chủ đề “Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD): Điểm nối kết đa chuyên khoa”. 1.400 đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến cho thấy quy mô và chiều sâu học thuật của một diễn đàn liên ngành, nơi GERD được tiếp cận như điểm giao thoa của nhiều chuyên khoa, không chỉ riêng Tiêu hóa.

Nguồn: alobacsi.com

Tinh hoa học thuật quy tụ tại Hội nghị Hiệp hội Y học TPHCM: Chủ tịch – Phó Chủ tịch các Hội chuyên khoa giữ vai trò chủ tọa, báo cáo

Sáng 21/9/2025, tại TPHCM, Hội nghị Khoa học thường niên Hiệp hội Y học TPHCM lần thứ I chính thức diễn ra với chủ đề “Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD): Điểm nối kết đa chuyên khoa”. 1.400 đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến cho thấy quy mô và chiều sâu học thuật của một diễn đàn liên ngành, nơi GERD được tiếp cận như điểm giao thoa của nhiều chuyên khoa, không chỉ riêng Tiêu hóa.

GERD – Mở lối kết nối đa chuyên khoa tại Hội nghị thường niên Hiệp hội Y học TPHCM

Chủ đề GERD – Điểm nối kết đa chuyên khoa thu hút 1.400 đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến, 12 báo cáo trong 2 phiên thảo luận
Hội nghị quy tụ tinh hoa học thuật khi các báo cáo viên là những chuyên gia đầu ngành từ Tiêu hóa, Gan mật, Hô hấp, Tai Mũi Họng, Tim mạch Can thiệp, Phụ sản, Phẫu thuật Tiêu hóa, Dinh dưỡng…

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng – Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM, Chủ tịch Hội Gan mật TPHCM nhìn nhận, GERD là bệnh lý điển hình cho tính “đa diện” của y học hiện đại. Bên cạnh ợ nóng hay khó chịu vùng thượng vị, bệnh có thể biểu hiện bằng khàn tiếng, viêm họng mạn (Tai Mũi Họng), ho kéo dài, hen suyễn (Hô hấp), đau ngực không do tim (dễ nhầm thiếu máu cơ tim – Tim mạch), hay mòn men răng, hôi miệng (Răng Hàm Mặt). Chính phổ biểu hiện rộng này đòi hỏi chiến lược chẩn đoán – điều trị liên chuyên khoa.

PGS.TS.BS Bùi Hữu Hoàng cho biết, từ góc nhìn Tiêu hóa-Gan mật, GERD cần phối hợp đa chuyên khoa để chẩn đoán và kiểm soát hiệu quả

Trên cơ sở đó, chuyên gia nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của việc chọn GERD làm chủ đề trung tâm: “Đây là diễn đàn để các chuyên gia, bác sĩ, nhà nghiên cứu cùng chia sẻ, cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm. GERD gia tăng trong thập niên qua do lối sống, tâm sinh lý và môi trường; biểu hiện không dừng ở Tiêu hóa mà còn liên quan đến Tai Mũi Họng, Hô hấp, Tim mạch, Răng miệng… Sự kết nối đa chuyên khoa là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả”.

Theo ông, bên cạnh thuốc, điều trị GERD phải đi kèm thay đổi lối sống – chế độ dinh dưỡng, và trong một số trường hợp can thiệp phẫu thuật; đặc biệt cần thận trọng ở trẻ em, phụ nữ mang thai, người béo phì. Việc định vị GERD tại “điểm kết nối đa chuyên khoa” vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa định hướng rõ cách phối hợp trong thực hành, từ đó nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Chương trình gồm 12 báo cáo khoa học chia hai phiên, thiết kế nội dung từ “nhận diện rộng” đến “xử trí chuyên biệt”. Phiên buổi sáng tập trung vào biểu hiện lâm sàng đa dạng của GERD, với những chủ đề mang tính kết nối rõ rệt: GERD nhìn từ chuyên khoa Tiêu hóa; thách thức chẩn đoán tại Việt Nam; GERD và biểu hiện ở thanh quản, hầu họng; mối liên quan với bệnh lý hô hấp; đau ngực không do tim; và những tác động âm thầm lên sức khỏe răng miệng.

Nếu buổi sáng là bức tranh toàn cảnh về những biểu hiện đa dạng thì phiên buổi chiều lại đi sâu vào GERD trên các nhóm đặc biệt và các hướng điều trị mới. GERD ở trẻ em và phụ nữ mang thai, hai nhóm vốn rất nhạy cảm, được thảo luận cặn kẽ. Vai trò của giảm cân ở bệnh nhân béo phì, chế độ dinh dưỡng cá thể hóa, những tiến bộ trong can thiệp nội soi và phẫu thuật, cùng các phương pháp thăm dò chức năng thực quản ở bệnh nhân kháng trị cũng được trình bày. Chính sự phân tầng và chuyên biệt này giúp bác sĩ tiếp cận GERD không chỉ từ triệu chứng mà còn từ cơ địa và hoàn cảnh sống của người bệnh.

Cầu nối đa chuyên khoa được kiến tạo từ chủ tọa  báo cáo viên đầu ngành

Tạo nên “lực hút” của hội nghị là chủ tọa đoàn và 12 báo cáo viên đều là đều là chuyên gia đầu ngành, đảm nhiệm các vị trí Chủ tịch, Phó chủ tịch của các hội chuyên khoa trực thuộc Hiệp hội Y học TPHCM: Hội Khoa học Tiêu hóa TPHCM, Hội Gan mật TPHCM, Hội Hô hấp TPHCM, Hội Tai Mũi Họng TPHCM, Hội Tim mạch Can thiệp TPHCM, Hội Phụ sản TPHCM, Hội Phẫu thuật Tiêu hóa TPHCM, Hội Dinh dưỡng – Thực phẩm TPHCM, cùng các giảng viên đại học, nhà nghiên cứu và bác sĩ lâm sàng từ nhiều cơ sở y tế. Việc chủ tọa đoàn do lãnh đạo các hội chuyên khoa đảm trách bảo đảm chuẩn mực học thuật và tính liên ngành xuyên suốt từ thảo luận đến khuyến nghị thực hành.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM, từ GERD mở rộng góc nhìn cho bác sĩ chuyên khoa, đa khoa và tuyến cơ sở

Ở góc nhìn chiến lược, PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung – Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM cho biết: “Ngày hôm nay, với 8 chủ đề từ sáng đến chiều, tham dự một hội nghị tương đương tham dự 8 hội nghị chuyên khoa. Đây là hội nghị đầu tiên sau khi Hội Y học TPHCM chính thức đổi tên thành Hiệp hội Y học TPHCM. Chủ trương của chúng tôi là tăng cường hợp tác liên ngành, để chủ đề không chỉ mang lại kiến thức cho bác sĩ chuyên khoa, mà còn bổ sung tầm nhìn cho bác sĩ đa khoa, bác sĩ gia đình và đặc biệt là tuyến y tế cơ sở”.

Bà nhấn mạnh đà phát triển từ thế mạnh của một hiệp hội với 72 hội chuyên khoa sẽ tạo nền tảng cho các khóa đào tạo ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức – kỹ năng thực hành cho đội ngũ bác sĩ, nhất là tại tuyến đầu.

PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung – Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM
PGS.TS.BS Trần Văn Ngọc – Chủ tịch Hội Hô hấp TPHCM, BS.CK2 Trần Kiều Miên – Chủ tịch Hội Khoa học Tiêu hóa TPHCM (từ trái qua)

PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp Hội TPHCM (bìa trái)
GS.TS.BS Võ Thành Nhân – Chủ tịch Hội Tim mạch Can thiệp TPHCM
GS.TS.BS Phạm Kiên Hữu – Chủ tịch Hội Tai Mũi Họng TPHCM
PGS.TS.BS Vũ Thị Nhung – Chủ tịch Hội Phụ sản TPHCM
BS.CK2 Đỗ Thị Ngọc Diệp – Phó Chủ tịch Hiệp hội Y học TPHCM, Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Thực phẩm TPHCM
PGS.TS.BS Đỗ Kim Quế – Chủ tịch Hội Phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch TPHCM, Phó Giám đốc Bệnh viện Thống Nhất 

Đại biểu từ Tiêu hóa, Hô hấp, Tai Mũi Họng, Tim mạch, Răng Hàm Mặt, Dinh dưỡng làm thủ tục đăng ký, sẵn sàng cho 2 phiên thảo luận với 12 báo cáo trọng tâm về GERD

Hội nghị Khoa học thường niên Hiệp hội Y học TPHCM lần I vì thế không chỉ là một sự kiện khoa học, mà còn là bước đi tiên phong trong việc xây dựng cầu nối đa chuyên khoa, khẳng định cam kết của đội ngũ y tế thành phố trong việc nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Từ GERD, các chuyên khoa tìm thấy điểm giao thoa, và từ diễn đàn này, cộng đồng y học có thêm động lực để hướng đến mục tiêu chung: chăm sóc sức khỏe toàn diện, bền vững cho người dân.

Nguồn: alobacsi.com