Author Archives: admin

Yếu hai chân do đái tháo đường

Lê Tuyết Hoa* 

Trường hợp lâm sàng

Trường hợp 1

Bệnh nhân (BN) nữ, 58 tuổi, đến khám vì yếu và teo hai chân. Bà mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) 20 năm, đang uống metformin và sulfonylurea, không dùng statin một năm nay. Khoảng 6 tháng nay đường huyết thử tại nhà luôn quanh mức 400mg/dL, BN thường đau nhức hai bàn chân, đau nhói nhiều về đêm không ngủ được. 5 tháng nay ốm nhanh dù cố gắng ăn nhiều, đi đứng loạng choạng, dần dần bà nhận thấy không thể leo cầu thang và khó giữ được dép. Càng ngày càng không đứng nổi, yếu chân rõ kèm theo teo dần hai bắp chân và teo cả hai mông. Không có biến đổi thêm những bất thường về cảm giác. Gia đình không ai mắc bệnh teo cơ; bản thân trước đó chưa từng có triệu chứng tương tự.
Thăm khám: cân nặng 43kg, BMI 17,5kg/m2, huyết áp (HA) 160-170/90 mmHg, nhịp tim 92 lần/phút. Bàn chân khô, không rãnh nứt hay cục chai. Cơ bắp chân, cơ đùi, cơ mông hai bên teo rõ. Teo các cơ liên xương ở bàn chân. Mất hết các cảm giác sờ nông, nhiệt, cảm nhận rung vỏ xương với âm thoa 128 Hz, phản xạ gót, định vị ngón. Không thể đứng trên gót và ngón, không có dấu hiệu bàn tay cầu nguyện (bàn tay duỗi so với khớp cổ tay đến góc 90o).
Điện cơ chi dưới (EMG): Thần kinh (TK) chày trước, mác, L4, L5, S1 có điện thế đơn vị vận động (MUP) cao đa pha, kết tập giảm. Hình ảnh phù hợp với bệnh đa dây TK ngoại biên mạn tính mức độ vừa.
Xét nghiệm:HbA1c 12,5%, glucose máu đói 380 mg/dL, cholesterol 4,5 mmol/L, HDL 0,8, triglyce-ride: 2,5, creatinine 0,8mg/dL, TSH 2,8 mIU/L.
Chụp hình màu võng mạc:nhiều vi phình mạch, phù hoàng điểm dạng nang.
Điều trị:Chuyển sang dùng insulin, sau 3 tháng mới kiểm soát được đường huyết, glucose máu khi đói sáng và chiều khoảng 120-150mg/dL. Tiếp tục dùng thuốc hạ áp amlodipine 5mg, losartan 50mg, Concor 5mg mỗi ngày, HA duy trì ở mức 120/80 mmHg. Atorvastatin được dùng ở liều 20mg. Chỉ định pregalin 150mg, lipoic acid 300mg, vitamin 3B cho chứng đau TK. Chú trọng tập vật lý trị liệu, tập trung các bài tập tăng sức mạnh cho cơ.

Kết quả:sau 8 tháng điều trị và theo dõi, BN đã có thể lên cầu thang, mang dép không rớt; khối cơ cẳng chân và cơ đùi tăng kích thướcvà độ chắc. Cân nặng 50 kg (tăng 7kg). Bất thường TK nói trên ổn định suốt 3 năm nay.

Download pdf

Điều trị chống đông bằng thuốc uống: có gì mới hiện nay?

Hồ Huỳnh Quang Trí*

Thuốc kháng vitamin K đã được tìm ra từ hơn 60 năm và đã được dùng để điều trị chống đông từ hơn 40 năm nay.1 Các thuốc kháng vitamin K là những dẫn xuất coumarin, gồm warfarin, acenocoumarol, phenprocoumon và ethylbiscou-macetat. Các thuốc kháng vitamin K ức chế enzym vitamin K-epoxide-reductase và vitamin K-reductase, qua đó ức chế sự chuyển vitamin K dạng oxy-hóa thành vitamin K dạng khử. Hậu quả của sự thiếu hụt vitamin K dạng khử là suy giảm phản ứng carboxyl-hóa biến tiền yếu tố đông máu (chưa có hoạt tính) thành yếu tố đông máu có hoạt tính.2 Như vậy, cơ chế tác dụng của thuốc kháng vitamin K là ức chế sự tổng hợp dạng có hoạt tính của các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K (gồm yếu tố II, VII, IX và X).
Chỉ định dùng thuốc kháng vitamin K gồm: ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống trong bệnh van hai lá hậu thấp, ở bệnh nhân rung nhĩ, ngừa huyết khối van tim nhân tạo và phòng ngừa cấp hai[WU1] [LAB2] thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc động mạch phổi). Hiện nay INR được xem là xét nghiệm chuẩn để đánh giá mức độ chống đông bằng thuốc kháng vitamin K.2 Vì  không thể có được một giá trị INR cố định trong suốt quá trình điều trị dài hạn, các hướng dẫn thực hành thường đưa ra một khoảng INR cần đạt (2,5 – 3,5 đối với người mang van tim nhân tạo cơ học và 2 – 3 trong những trường hợp còn lại). Liều thuốc kháng vitamin K được điều chỉnh để đạt INR trong khoảng này. Duy trì  INR trong một khoảng nào đó là một công việc rất khó khăn. INR có thể dao động (dù liều thuốc kháng vitamin K không đổi) do những thay đổi của lượng vitamin K trong khẩu phần ăn (các loại thức ăn chứa nhiều vitamin K gồm bắp cải, bông cải, cải xoăn, rau diếp, rau bina, gan bò, gan heo), do thay đổi của chức năng gan, do tương tác thuốc (thuốc kháng vitamin K tương tác với rất nhiều thuốc) hoặc do bệnh nhân không tuân trị.2 Trên thực tế, để duy trì INR trong một khoảng đích cần thực hiện xét nghiệm này một cách định kỳ, không thưa hơn một lần mỗi tháng và mỗi khi có phối hợp thêm một thuốc có thể tương tác với thuốc kháng vitamin K. Ngoài ra, cần coi trọng việc huấn luyện, giáo dục bệnh nhân. Gần đây hãng Roche Diagnostics giới thiệu một dụng cụ đo INR trên máu mao mạch trích từ đầu ngón tay (tương tự như dụng cụ đo đường huyết mao mạch). Dụng cụ này (mang tên CoaguChek) cho phép đơn giản hóa việc theo dõi INR, bệnh nhân có thể dùng nó để tự theo dõi và điều chỉnh liều thuốc kháng vitamin K tại nhà. Một nghiên cứu phân nhóm ngẫu nhiên trên 737 bệnh nhân cho thấy tự theo dõi INR và điều chỉnh liều thuốc tại nhà với dụng cụ CoaguChek giúp đạt hiệu quả chống đông và độ an toàn tương đương điều trị chống đông qui ước tại phòng khám.3
Nói chung, thuốc kháng vitamin K có nhiều nhược điểm như: khởi phát tác dụng chậm, cách theo dõi điều trị phức tạp, khoảng trị liệu hẹp, tương tác với nhiều loại thức ăn và thuốc. Từ đầu thế kỷ này, các nhà nghiên cứu đã tìm cách phát triển những thuốc chống đông uống mới không có các nhược điểm nêu trên. Hai nhóm thuốc đã được đưa vào dùng trong lâm sàng là nhóm ức chế trực tiếp thrombin và nhóm ức chế trực tiếp Xa…

Hội y học tp. Hồ chí minh sau 35 năm xây dựng và phát triển (1979 – 2014)

Trương Thị Xuân Liễu* Huỳnh Anh Lan** Huỳnh Liên Đoàn***

Đại hội đại biểu kết thúc nhiệm kỳ VII và khởi đầu nhiệm VIII đánh dấu 35 năm sự ra đời của Hội Y học (TP. Hồ Chí Minh. Một quá trình 35 năm, quá dài để có thể tổng kết trong vài trang giấy, cho nên trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ xin hồi tưởng vài nét lịch sử và chia sẻ một số suy nghĩ về xu hướng phát triển của Hội Y học trong thời gian qua.

Hội Y học TP.HCM– vài nét lịch sử

Hội Y học TP.HCM (HYH) ra đời cách đây 35 năm, trong bối cảnh sau ngày giải phóng công việc còn ngổn ngang, khó khăn còn chồng chất, các cán bộ ngành y tế có nhiều suy tư về cuộc sống và vị trí của mình trong xã hội mới. Lúc đó các cán bộ y tế TP.HCM, từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, có tâm tư trăn trở khác nhau, nhưng đều sớm ý thức là cần có một tổ chức khoa học nghề nghiệp để có nơi sinh hoạt chung. Từ năm 1978, Ban Vận động thành lập Hội, bao gồm các cán bộ lãnh đạo ngành y tế TP, các giáo sư đầu ngành ở các Trường Viện, đã tổ chức cho các cán bộ khoa học kỹ thuật trong ngành y đăng ký gia nhập Hội, xây dựng mạng lưới Chi hội ở hầu hết các cơ sở y tế   quân và dân y tại TP.HCM. Ngày 24/1/1979, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của giới y học TP.HCM với trên 300 đại biểu thuộc các Chi hội Y, Nha, Dược của Hội Trí thức Yêu nước TP.HCM, sau khi bàn bạc thống nhất việc thành lập Hội Y học TP.HCM, đã bầu ra ban Chấp hành nhiệm kỳ I của HYH TP.HCM (1979 – 1983) với Chủ tịch đầu tiên là TS. DS Nguyễn Duy Cương, lúc đó là Giám đốc Sở Y tế TP.HCM. Đến khi TS Nguyễn Duy Cương nhận nhiệm vụ Thứ trương Bộ Y tế, Đại hội đại biểu lần thứ 2 bầu GS Phạm Biểu Tâm làm Chủ tịch Hội Y học nhiệm kỳ II (1983 – 1987). Sau khi GS Phạm Biểu Tâm định cư ở nước ngoài, VS. TS Dương Quang Trung được bầu làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ III (1987 – 1991). Lúc đó, Hội Y học đổi tên thành Hội Y Dược học TP.HCM và đặt trụ sở tại 59B Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1. Trong ba nhiệm kỳ đầu của HYH, Tổng Thư ký Hội là BS Trần Xuân Thu. Đến nhiệm kỳ IV (1991- 1996) VS. TS Dương Quang Trung tiếp tục làm chủ tịch Hội. Qua đến nhiệm kỳ V, TS Nguyễn Duy Cương trở lại làm Chủ tịch Hội, nhiệm kỳ này kéo dài từ 1996 đến 2004. Trong nhiệm kỳ IV và V, Tổng Thư ký Hội là DS Huỳnh Văn Nhiệm. Đến ngày 30/10/2004, Đại hội đại biểu thống nhât việc tách Hội Y học TP.HCM và Hội Dược học TP.HCM, bầu ban Chấp hành (BCH), thông qua điều lệ sửa đổi và phương hướng hoạt động của HYH nhiệm kỳ VI (2004- 2009). VS. TS Dương Quang Trung được bầu làm Chủ tịch Hội và TS Phạm Duy Linh làm Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư Ký Hội. Ngày 10/01/2005, Ủy Ban Nhân dân TP.HCM ra Quyết định số 112/ QĐ-UB công nhận BCH mới, và Quyết định số 113/QĐ-UB phê duyệt điều lệ sửa đổi, tổ chức và hoạt động của HYH TP.HCM. Kế đến nhiệm kỳ VII (2009-2014), VS. TS Dương Quang Trung tiếp tục được tín nhiệm làm Chủ tịch Hội, đến ngày 20/6/2012 khi ông mất thì BS Trương Thị Xuân Liễu được BCH bầu làm Phó Chủ tịch Thường trực cho đến khi tiến hành Đại hội đại biểu NK VIII vào ngày 27 tháng 9, 2014. BS Huỳnh Anh Lan là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký, BS Huỳnh Liên Đoàn làm Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng của nhiệm kỳ VII.

Nhiều thầy cô, cán bộ lão thành, đàn anh đàn chị trong ngành y tế TP.HCM đã đóng góp biết bao công sức và trí tuệ để xây dựng Hội Y học cho đến ngày nay. Chúng tôi xin đính kèm danh sách tổng hợp của các Ban Chấp hành HYH từ nhiệm kỳ I đến nhiệm kỳ VII để chúng ta cùng nhau tưởng nhớ những gương mặt trí thức của ngành Y đã làm nên HYH TP.HCM ngày hôm nay. (xem Phụ lục: Danh sách các ủy viên tham gia Ban Chấp hành HYH từ NK I – NK VII)…

Download pdf

Lao khẩu hầu: nhân một trường hợp

Phan Vương Khắc Thái, Nguyễn Thị Phương Loan, Nguyễn Thị Mộng Trinh, Nguyễn Tuấn Tài, Nguyễn Đình Thắng,  Lê Đình Thông,  Nguyễn Đình Duy, Nguyễn Huy Dũng, và cs *


Summary
OROPHARYNGEAL TUBERCULOSIS – A CASE REPORT
Oropharyngeal tuberculosis, which is usually secondary to pulmonary tuberculosis (TB), is a rare manifestation. We report a case of oropharyngeal tuberculosis in an old man at the Tuberculosis Department for Men (A4) at Pham Ngoc Thach Hospital.
A 62-year-old male patient, who was transferred from Ho Chi Minh City Oncology Hospital with diagnosis of oropharyngeal tuberculosis by biopsy, presented to the Tuberculosis Department (A4) with the chief complaints of sore throat, loss of appetite, odynophagia and malaise. He was unable to swallow both liquid and solid food and had lost 10 kg of body weight within the last two months. Right cervical lymph nodes were detected. Oral and oropharyngeal examination showed that the posterior oropharyngeal wall mucosa was hyperemic and covered with multiple large, gray-white plaques of varying sizes. Chest radiograph showed ill-defined and irregular opacity in right lung and infiltrates at basal and axillary zones in left lung. Blood tests were within normal limits and HIV testing was negative. Sputum for acid fast bacilli (AFB) was positive and biopsy of lymph node showed images suggestive of tuberculosis. The patient was started on anti-TB treatment drugs (2SRHZE/1RHZE/5R3H3E3) together with antibiotics, symptomatic management and blood transfusion. After nearly 1 month of treatment, he recovered from symptoms and had normal appearing oropharyngeal mucosa. He was transferred to local TB unit for continuing treatment and follow-up.
The possibility of tuberculosis should be keep in mind, especially in developing countries where the incidence of tuberculosis is high. If ulcer lesions in the oropharynx or oral cavity does not respond to antibiotics, biopsy should be performed to confirm diagnosis.

Download pdf

Điều trị sỏi thận và niệu quản bằng sóng xung kích

Nguyễn Hoàng Đức* 

Summary
SHOCKWAVE LITHOTRIPSY FOR RENAL AND URETERIC CALCULI
Nearly 30 years after its revolutionary introduction, shock wave lithotripsy (SWL) is a well-established and safe treatment modality for the majority of stones in upper urinary tract. Generally, in adults with normal anatomy, SWL should be the first-line treatment for non-lower pole stones of < 20 mm in the kidneys and stones of < 10 mm in the ureter. In pediatric urolithiasis, the indications for SWL are similar to those in adults, although even staghorn stones can be treated successfully.

* Khoa Niệu, Bệnh viện FV và Bệnh viện Đại học Y Dược

Download pdf

Điểm mới trong điều trị tăng đường huyết cho người cao tuổi

Lê Tuyết Hoa*


Tóm tắt
Chăm sóc và điều trị đái tháo đường (ĐTĐ) cho người có tuổi phức tạp hơn người trẻ bởi nhiều bệnh lý kết hợp, bởi các thuốc hạ đường huyết hiện tại có mức độ lợi ích lẫn nguy cơ khác nhau và những chứng cứ về việc kiểm soát đường huyết tích cực mang lại lợi ích cho tim mạch chưa được khẳng định. Kiểm soát đường huyết chỉ là một phần trong điều trị đa yếu tố để kiểm soát tất cả nguy cơ tim mạch và bệnh mạch máu nhỏ. Mục đích của kiểm soát đường huyết là giảm thiểu biến chứng mạn tính và tránh sự cố hạ đường huyết nặng. Xác lập mục tiêu đường huyết cho từng người là điều quan trọng đầu tiên. Mục tiêu này không buộc HbA1c phải dưới 6,5% hay 7% mà phải xem xét những ưu tiên hàng đầu bao gồm thời gian sống của người bệnh, những bệnh đi kèm, tính an toàn cho người có tuổi, cân nhắc những nguy cơ hạ đường huyết và lợi ích trên biến chứng vi mạch.
Bên cạnh đề kháng insulin và giảm tiết insulin là những bất thường chính trong ĐTĐ týp 2, một vài cơ chế khác cũng góp phần tăng đường huyết. Do vậy hiện đã có thêm nhóm incretin và nhóm ức chế hấp thu đường ở thận (chờ phê duyệt) làm hạ đường huyết theo cơ chế sinh bệnh. Tiếp tục có thêm nhiều nghiên cứu mới trên nhóm incretin để khẳng định độ an toàn và lợi ích trên người cao tuổi. Insulin thế hệ mới (insulin analog) dù loại tác dụng dài hay pha trộn đều tiện dùng cho người cao tuổi vì ít gây hạ đường huyết, tác động hiệu quả suốt 24 giờ (đối với insulin analog tác dụng dài), kiểm soát đường sau ăn tốt và linh động theo bữa ăn dễ hơn insulin người.
Tác động của ĐTĐ lên chức năng nhận thức, nguy cơ trầm cảm, viêm khớp, tăng nguy cơ gãy xương hông và vai trò của vitamin D trong đề kháng insulin gần đây được lưu ý nhiều vì ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị ĐTĐ và chất lượng sống của người bệnh có tuổi.


*TS BS Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM

Sự biến thiên của gen mã hóa các phân tử dính và trợ viêm có liên quan với sốt rét nặng trên bệnh nhân người việt

SJ Dunstan1,2, KA Rockett3, NTN Quyên1, YYTeo4, CQ Thái5, NT Hằng1, A Jeffreys3, G Clark6, KS Small7, CP Simmons1,2, N Day8, SE O’Riordan1, DP Kwiatkowski3,9, J Farrar1,2, NH Phú1,5 và TT Hiền1,5, cộng tác với MalariaGEN Consortium3,9


Tóm tắt
Cơ sở di truyền của tính cảm nhiễm sốt rét đã được nghiên cứu rộng rãi trên các quần thể người châu Phi nhưng sự đóng góp của các biến thể di truyền chuyên biệt trong các quần thể người châu Á chưa được biết nhiều. Chúng tôi đã xác định kiểu gen của 67 thể đa hình đơn-nucleotid (SNP) trên 1030 trường hợp sốt rét nặng và 2840 trường hợp đối chứng ở Việt Nam. Sau khi kiểm tra chất lượng dữ liệu, dữ liệu kiểu gen của 956 ca bệnh và 2350 người đối chứng được phân tích đối với 65 SNP (3 SNP xác định giới tính, 62 nằm trên/gần 42 gen ứng viên sốt rét). Tổng cộng có 14 SNP đơn hình và 2 SNP (rs8078340 và rs33950507) không ở trạng thái cân bằng Hardy–Weinberg trên các đối tượng đối chứng (P<0,01). Có 7/46 SNP trên 6 gen (ICAM1, IL1A, IL17RC, IL13, LTA và TNF) có liên quan với sốt rét nặng, với 3/7 SNP ở vùng TNF/LTA. Sự tương quan kiểu gen–kiểu hình giữa SNP và các thông số lâm sàng cho thấy kiểu gen rs708567 (IL17RC) tương quan với mật độ ký sinh trùng trong máu (P=0,028, r2=0,0086), đồng hợp tử GG có lượng ký sinh trùng thấp nhất. Ngoài ra, đồng hợp tử GG rs708567 có nguy cơ sốt rét nặng (P=0,007, OR=0,78 (KTC 95%: 0,65–0,93)) và chết (P=0,028, OR=0,58 (KTC 95%: 0,37–0,93)) thấp hơn các kiểu gen AA và AG. Tóm lại, các biến thể trong 6 gen mã hóa các phân tử dính và trợ viêm có liên quan với sốt rét nặng trên người Việt Nam. Cần có thêm các nghiên cứu tương tự trên các dân số độc lập để khẳng định những kết quả này.
Từ khóa: sốt rét nặng; SNP; kết hợp di truyền; ICAM1; TNF; IL17RC

Abstract
VARIATION IN HUMAN GENES ENCODING ADHESION AND PROINFAMMATORY MOLECULES ARE ASSOCIATED WITH SEVERE MALARIA IN THE VIETNAMESE
The genetic basis for susceptibility to malaria has been studied widely in African populations but less is known of the contribution of specific genetic variants in Asian populations. We genotyped 67 single-nucleotide polymorphisms (SNPs) in 1030 severe malaria cases and 2840 controls from Vietnam. After data quality control, genotyping data of 956 cases and 2350 controls were analysed for 65 SNPs (3 gender confirmation, 62 positioned in/near 42 malarial candidate genes). A total of 14 SNPs were monomorphic and 2 (rs8078340 and rs33950507) were not in Hardy–Weinberg equilibrium in controls (P<0.01). In all, 7/46 SNPs in 6 genes (ICAM1, IL1A, IL17RC, IL13, LTA and TNF) were associated with severe malaria, with 3/7 SNPs in the TNF/LTA region. Genotype–phenotype correlations between SNPs and clinical parameters revealed that genotypes of rs708567 (IL17RC) correlate with parasitemia (P=0.028, r2=0.0086), with GG homozygotes having the lowest parasite burden. Additionally, rs708567 GG homozygotes had a decreased risk of severe malaria (P=0.007, OR=0.78 (95% CI; 0.65–0.93)) and death (P=0.028, OR=0.58 (95% CI; 0.37–0.93)) than those with AA and AG genotypes. In summary, variants in six genes encoding adhesion and proinflammatory molecules are associated with severe malaria in the Vietnamese. Further replicative studies in independent populations will be necessary to confirm these findings.
Keywords: severe malaria; SNP; genetic association; ICAM1; TNF; IL17RC

Đơn vịNghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford, TP.HCM Việt Nam;
Khoa Y học Lâm sàng Nuffield, Trung tâm Y học Nhiệt đới, Đại học Oxford, Oxford, Vương quốc Anh;
Trung tâm Di truyền học Người Wellcome Trust, Đại học Oxford, Oxford, Vương quốc Anh,
Bộmôn Thống kê và Xác suất ứng dụng, Đại học Quốc gia Singapore, Singapore;
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, TP. HồChí Minh, Việt Nam;
Trường Vệsinh và Y học Nhiệt đới London,  Vương quốc Anh;
Bộmôn Nghiên cứu Song sinh và Dịch tễhọc Di truyền, King’s College London, London, Vương quốc Anh;
Đơn vịNghiên cứu Mahidol-Oxford, Khoa Y học Nhiệt đới, Đại học Mahidol, Bangkok, Thái Lan và
ViệnWellcome Trust Sanger, Hinxton, Vương quốc Anh.

Kết quả bước đầu điều trị ung thư tuyến tiền liệt bằng siêu âm hội tụ cường độ cao (hifu) trên bệnh nhân có nguy cơ trung bình-cao

Nguyễn Hoàng Đức* Phó Minh Tín* Lê Phúc Liên*

Tóm tắt
Mục đích: Đánh giá hiệu quả bước đầu điều trị ung thư tuyến tiền liệt (TTL) trên bệnh nhân có nguy cơ trung bình-cao bằng siêu âm hội tụ cường độ cao (HIFU).
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, thí điểm, không nhóm chứng với 33 bệnh nhân ung thư TTL có nguy cơ trung bình đến cao (theo phân loại D’Amico) điều trị bằng HIFU (Sonablate, Focus Surgery) tại Bệnh viện Đại học Y Dược từ tháng 4/2010 đến tháng 2/2012. Sau điều trị, bệnh nhân được theo dõi PSA máu và sinh thiết TTL ở các thời điểm 6 và 12 tháng. Thống kê mô tả với SPSS 12.0
Kết quả: Tuổi trung bình 70 ± 1,6 (thay đổi từ 47 đến 86 tuổi). PSA trung bình trước điều trị 40,9 ng/mL ± 40,2 (thay đổi từ 2,3 đến 197 ng/mL). Bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao chiếm 84,8% (n = 28) và nhóm nguy cơ trung bình là 15,2% (n = 5). Thời gian trung bình thực hiện HIFU là 149 phút ± 44 (thay đổi từ 70 – 240 phút). Thời gian nằm viện trung bình sau HIFU là 26 giờ ± 11 (thay đổi từ 8 – 48 giờ). Ở thời điểm 6 tháng sau HIFU, tỉ lệ tái phát về mặt sinh hóa là 25% và tỉ lệ thất bại điều trị là 19,3%. Ở thời điểm 12 tháng sau HIFU, tỉ lệ tái phát về mặt sinh hóa là 42,8% và tỉ lệ thất bại điều trị là 58,8%. Tỉ lệ bệnh nhân hẹp niệu đạo sau phải nong định kỳ là 27,2%, tiểu không kiểm soát là 6% và rò bàng quang-trực tràng là 3%.
Kết luận: Để đánh giá vai trò chính xác của HIFU đối với bệnh nhân ung thư TTL nhóm nguy cơ trung bình – cao, cần có những nghiên cứu với số lượng bệnh nhân nhiều hơn và theo dõi lâu dài hơn.

Summary
SHORT-TERM OUTCOMES OF PATIENTS WITH INTERMEDIATE AND HIGH RISK PROSTATE CANCER TREATED WITH HIGH-INTENSITY FOCUSED ULTRASOUND (HIFU)
Objective: To assess short-term outcomes of patients with intermediate and high risk prostate cancer treated with HIFU.
Objective: To assess short-term outcomes of patients with intermediate and high risk prostate cancer treated with HIFU.
Material and methods: From April 2010 to February 2012, 33 men with intermediate to high risk prostate cancer (D’Amico classification) were treated with HIFU (Sonablate, Focus Surgery) at the University Medical Centre of Ho Chi Minh City. Outcome data (biochemical failure and positive prostate biopsy) at 6 and 12 months were evaluated.
Results: Mean age of patients was 70 ± 1.6 years (range, 47 to 86). Mean PSA level was 40.9 ± 40.2 ng/mL (range, 2.3 to 197). Intermediate- and high-risk subgroups represented 15.2% and 84.8% of patients, respectively. Mean operation duration was 149 ± 44 minutes (range, 70 to 240). Mean post-HIFU hospital stay was 26 ± 11 hours (range, 8 to 48). Biochemical failure rates at 6 and 12 months were 25% and 42.8%, respectively. Positive biopsies were noted in 19.3% at 6 months and 58.8% at 12 months. Complications included urethral stricture (27.2%), urinary incontinence (6%) and vesicorectal fistula (3%).
Conclusion:High-intensity focused ultrasound therapy appears to be minimally invasive for patients with intermediate to high risk prostate cancer. Further long-term studies with large sample sizes are needed to evaluate its efficacy in this population.


*Đơn vịHIFU – Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM

Chức năng tim trên bệnh nhân người việt bị sốt dengue ở những độ nặng khác nhau

Sophie Yacoub1, Anna Griffiths2, Trần Thị Hồng Châu3, Cameron P. Simmons4, Bridget Wills4, Trần Tịnh Hiền4, Michael Henein5, và Jeremy Farrar4


Tóm tắt
Mục tiêu: Sốt dengue tiếp tục gây ra một bệnh suất và tử suất có ý nghĩa trên toàn cầu. Thể bệnh nặng ẩn chứa sự đe dọa tim mạch do rò rỉ mao mạch. Tổn thương tim trong sốt xuất huyết cũng đã được báo cáo nhưng chưa được nghiên cứu thỏa đáng.
Địa điểm: Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Đối tượng và thiết kế:Nghiên cứu gồm 79 bệnh nhân từ 8–46 tuổi bị sốt dengue ở những độ nặng khác nhau được khảo sát siêu âm tim bao gồm hình ảnh học Doppler mô. Bệnh nhân được chia theo độ nặng của bệnh: sốt dengue đơn thuần, dengue có các dấu hiệu báo động, và dengue nặng. Những thay đổi trong các thông số chức năng tim và chỉ số huyết động học được theo dõi trong thời gian nằm viện.
Can thiệp: Không có.
Kết quả chính: Chức năng tim của bệnh nhân dengue nặng xấu hơn so với bệnh nhân dengue đơn thuần dưới dạng rối loạn chức năng tâm thu thất trái với tăng chỉ số hiệu năng cơ tim (0,58 (0,26–0,80) so với 0,38 (0,22– 0,70), p=0.006). giảm vận tốc tâm thu cơ tim vách (6,4 (4,8 –10) so với 8,1 (6 –13) cm/s, p=0,01), cũng như vận tốc tâm thu thất phải (11,4 (7.5–17) so với 13,5 (10 –17) cm/s, p=0,016) và vận tốc tâm trương (13 (8–23) so với 17 (12–25) cm/s, p=0,0026). Ở nhóm bệnh nặng, lúc ra viện những thông số này được cải thiện so với khi nhập viện; vận tốc tâm thu cơ tim vách đạt 8,8 (7–11) cm/s (p=0,002), vận tốc tâm thu thất phải đạt 15,0 (11,8 –23) cm/s, (p=0,003), và vận tốc tâm trương đạt 21 (11–25) cm/s (p=0,002). Bệnh nhân giảm chức năng tim có nhiều khả năng tràn dịch màng phổi hơn.
Kết luận: Bệnh nhân dengue nặng có bằng chứng suy tim tâm thu và tâm trương với ảnh hưởng chủ yếu là ở vách tim và thành thất phải.

Abstract
CARDIAC FUNCTION IN VIETNAMESE PATIENTS WITH DIFFERENT DENGUE SEVERITY GRADES

Objective: Dengue continues to cause significant global morbidity and mortality. Severe disease is characterized by cardiovascular compromise from capillary leakage. Cardiac involvement in dengue has also been reported but has not been adequately studied.
Setting: Hospital for Tropical Diseases, Ho Chi Minh City, Vietnam.
Subjects and Design: Seventy-nine patients aged 8–46 yrs with different dengue severity grades were studied using echocardiography including tissue Doppler imaging. The patients were split into severity grades: dengue, dengue with warning signs, and severe dengue. Changes in cardiac functional parameters and hemodynamic indices were monitored over the hospital stay.
Intervention: None.
Measurements and Main Results: Patients with severe dengue had worse cardiac function compared with dengue in the form of left ventricular systolic dysfunction with increased left myocardial performance index (0.58 (0.26–0.80) vs. 0.38 (0.22– 0.70), p=0.006). Septal myocardial systolic velocities were reduced (6.4 (4.8 –10) vs. 8.1 (6 –13) cm/s, p=0.01) as well as right ventricular systolic (11.4 (7.5–17) vs. 13.5 (10 –17) cm/s, p=0.016) and diastolic velocities (13 (8 –23) vs. 17 (12–25) cm/s, p=0.0026). In the severe group, these parameters improved from hospital admission to discharge; septal myocardial systolic velocities to 8.8 (7–11) cm/s (p=0.002), right ventricular myocardial systolic velocities to 15.0 (11.8 –23) cm/s, (p=0.003), and diastolic velocity to 21 (11–25) cm/s (p=0.002). Patients with cardiac impairment were more likely to have significant pleural effusions.
Conclusions: Patients with severe dengue have evidence of systolic and diastolic cardiac impairment with septal and right ventricular wall being predominantly affected.

1Bộmôn Nhiễm và Miễn dịch, Imperial College, London, Vương quốc Anh,
2Khoa Siêu âm tim, Guys & St. Thomas’ NHS Trust, London, Vương quốc Anh
3Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, Tp. HồChí Minh, Việt Nam
4Đơn vịNghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford, Chương trình nghiên cứu hải ngoại, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, Tp. HồChí Minh, Việt Nam
5Bộmôn Y tế Công cộng và Y học Lâm sàng, Đại học Umea Thụy Điển và Đại học Giáo hội Công giáo Canterbury, Canterbury, Vương quốc Anh .
Công trình nghiên cứu này được  Wellcome Trust (Vương quốc Anh) tài trợ.

Yếu tố dinh dưỡng trong rối loạn tăng động-giảm chú ý (adhd)

Còn nhiều ý kiến trái ngược nhau về vai trò của bổ sung dinh dưỡng và chế độ ăn trong nguyên nhân và điều trị rối loạn tăng động–giảm chú ý (ADHD: attention deficit/hyperactivity disorder) ở trẻ em, nhưng đề tài này tiếp tục được các bậc cha mẹ và thầy thuốc – những người chuộng dùng những biện pháp thay thế cho thuốc kích thích hoặc muốn tìm một liệu pháp bổ sung – quan tâm. Tuy việc dùng thuốc để điều trị ADHD đã gia tăng đều đều từ những năm 1960, nhưng trong cùng thời gian ấy cũng phổ biến nhiều chế độ ăn khác nhau. Trong việc chọn lựa một liệu pháp cho ADHD, thầy thuốc thường ưa dùng thuốc có giá trị được chứng minh bằng những thử nghiệm có đối chứng. Các chế độ ăn khó đánh giá hơn, và các thử nghiệm thường đòi hỏi loại bỏ một số thức ăn và phẩm màu cần có sự giám sát của thầy thuốc và chuyên viên dinh dưỡng.

Download pdf