Author Archives: admin

Nôn ói ở người lớn: tiếp cận chẩn đoán

Chỉ khoảng một phần tư số người bị nôn ói cấp tính đi khám bệnh. Trong số này, hai phần ba đến khám vì độ nặng của triệu chứng, số còn lại sợ có bệnh trầm trọng và muốn tìm sự trấn an của bác sĩ (Quigley EM và cs, 2001). Gánh nặng kinh tế đối với cộng đồng cũng có ý nghĩa, ví dụ như một nghiên cứu ở Anh đã cho thấy mỗi năm nôn ói gây mất 8,5 triệu ngày công lao động (Hasler WL & Chey WD, 2003).
Thân não là nơi kiểm soát ói mửa, nó điều phối một loạt tác động liên quan đến cơ trơn đường ruột và cơ vân để tống mạnh chất chứa trong dạ dày ra ngoài. Về cơ bản, ói mửa là một phản xạ để loại bỏ những chất có tiềm năng có hại ra khỏi cơ thể.
Cần phân biệt những triệu chứng khác nhau có thể được mô tả bằng từ ‘nôn ói’. Buồn nôn là cảm giác khó chịu muốn ói và thường đi kèm với tăng tiết nước dải trong miệng. Ói mửa là sự tống tháo thức ăn trong dạ dày qua đường miệng. Ợ là co thắt cơ bụng nhưng không tống tháo thức ăn khỏi dạ dày. Trái lại, trớ là sự trào ngược thức ăn trong dạ dày lên miệng mà không có sự gắng sức nào, thường không có cảm giác buồn nôn, và có thể là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày-thực quản hoặc hội chứng nhai lại.
Tùy theo triệu chứng là cấp hay mạn tính mà xác định nguyên nhân buồn nôn/ói mửa và đề ra kề hoạch thăm khám thích hợp. Các triệu chứng mạn tính được định nghĩa là triệu chứng kéo dài từ một tháng trở lên.Bảng 1. Nguyên nhân buồn nôn và ói mửa cấp tính

Thường gặp

• Viêm dạ dày-ruột
• Nhiễm khuẩn ngoài tiêu hóa (ví dụ nhiễm khuẩn niệu trên người già)
• Dùng thuốc

Không được bỏ sót

• Các nguyên nhân ngoại khoa
– viêm tụy
– viêm túi mật
– viêm ruột thừa
– tắc ruột non
• Nhiễm toan-keton tiểu đường
• Bệnh Addison
• Tăng áp lực trong sọ (thường có các triệu chứng thần kinh khác)
• Viêm gan
• Ăn những thức ăn gây kích ứng/dị nguyên

Nôn ói cấp tính

Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp nhất của nôn/ói cấp tính (Bảng 1) là viêm dạ dày-ruột do virus hoặc ngộ độc thức ăn nhiễm khuẩn. Viêm nhiễm dạ dày-ruột thường hay gặp ở trẻ em và người lớn còn trẻ. Các virus gây viêm dạ dày-ruột cấp gồm có rotavirus, adenovirus và norovirus (đặc biệt là trong các vụ dịch). Độc tố vi khuẩn vấy nhiễm trong thức ăn có thể gây ói mửa đơn thuần, và thường do ăn những thức ăn chưa được nấu chín, bảo quản không đúng cách và bị nhiễm Staphylococcus aureus hoặc Bacillus cereus.
Nguyên nhân nhiễm khuẩn được nghĩ đến khi có triệu chứng tiêu chảy, đau bụng nhẹ, sốt, khó ở, một nguyên nhân/tiếp xúc tiềm năng (ví dụ đi xa, nhà có người bệnh, ăn những thực phẩm ‘đáng ngờ’) và không có dấu hiệu bụng nhạy đau khi khám. Ói mửa do độc tố thường xảy ra 1–6 giờ sau khi ăn thức ăn bị vấy nhiễm. Các nhiễm khuẩn khác như viêm tai giữa, nhiễm khuẩn niệu, viêm màng não và viêm gan cũng có thể gây ói mửa như là một triệu chứng trong bệnh cảnh chung, nhưng hiếm khi xảy ra đơn độc trừ trường hợp bệnh nhân cao tuổi.
Tác dụng phụ của thuốc thường có tính chất cấp tính, xảy ra sớm sau khi bắt đầu dùng thuốc, nhưng cũng có thể xuất hiện muộn hoặc không được nhận biết và có tính chất bán cấp. Nên hỏi kỹ bệnh nhân về việc dùng thuốc, kể các các vitamin, dược thảo, và thuốc mua không cần toa bác sĩ, cũng như bệnh sử uống rượu và dùng chất gây nghiện. Những thay đổi gần đây trong việc dùng thuốc đặc biệt có ý nghĩa. Mọi thuốc mới bắt đầu dùng gân đây phải được xem như một nguyên nhân tiềm năng của nôn/ói, tuy rằng chỉ có một số thuốc là hay gây tác dụng phụ này (Bảng 2).
Trong tắc nghẽn cơ học ở đường ruột, ói mửa thường là triệu chứng nổi bật, mà không kẻm cảm giác buồn nôn, ít ra là trong giai đoạn dầu. Chất ói ra có thể là một manh mối về nơi tắc nghẽn: thức ăn chưa tiêu hóa và nước bọt trong tắc nghẽn thực quản, thức ăn đã tiêu hóa một phần trong tắc nghẽn dạ dày (hẹp môn vị), và thức ăn lẫn mật hoặc hôi thối khi tắc nghẽn ở những vị trí thấp hơn. Tắc ruột non thường có ói mửa cấp tính, dai dẳng và đi kèm với các cơn đau quặn bụng; nhưng đôi khi có thể xảy ra cách hồi hoặc bán cấp.
Chóng mặt, các triệu chứng thần kinh, cứng cổ hoặc nhức đầu gợi ý một nguyên nhân thần kinh và cần được khẩn trương thăm khám thích hợp. Trên phụ nữ tuổi sinh đẻ, đừng quên chẩn đoán thai, nhất là phụ nữ có triệu chứng buồn nôn vào sáng sớm.

Bảng 2. Thuốc thường gây nôn ói

• Hóa trị ung thư
• Thuốc kháng viêm không-steroid
• Digoxin (buồn nôn có thể xảy ra ở liều điều trị)
• Thuốc chống loạn nhịp
• Thuốc chữa tiểu đường dạng uống (đặc biệt là metformin)
• Kháng sinh (erythromycin, co-trimoxazole)
• Sulfasalazin
• Miêng dán nicotin
• Thuốc ngủ
• Thuốc chữa bệnh Parkinson
• Thuốc chống động kinh (kể cả ở liều điều trị)
• Vitamin liều cao

Đánh giá ban đầu

Trong bệnh cảnh cấp tính, việc hỏi bệnh, khám thực thể và những xét nghiệm đơn giản thường có thể giúp chẩn đoán. Triệu chứng ói mửa thường tự hạn chế. Tiếp cận chẩn đoán tập trung vào việc nhận diện nguyên nhân (hoặc ít ra là loại trừ những bệnh tiềm ẩn quan trọng) nhằm xử trí theo dõi hoặc điều trị đặc hiệu.
Nên tìm cách phát hiện những biến chứng của nôn/ói và loại trừ những trường hợp cấp cứu. Phần lớn các trường hợp không nặng đến độ phải nhập viện, nhưng điều trị đường tĩnh mạch có thể cần thiết đối với:
• mất nước nặng (mà không thể bù nước bằng đường uống)
• có bất thường chuyển hóa quan trọng liên quan với ói mửa (bao gồm hạ kali-máu, nhiễm kiềm chuyển hóa hoặc tăng urê-máu)
• các cấp cứu ngoại khoa (ví dụ tắc cơ học, thủng tạng hoặc viêm phúc mạc)
• các yếu tố y khoa và xã hội khác làm tăng khả năng biến chứng (ví dụ suy thận, suy tim hoặc suy gan).

Thăm khám

Đánh giá mất nước lâm sàng qua các dấu hiệu khô niêm mạc, giảm độ đàn hôi da, nhịp tim nhanh và hạ huyết áp tư thế.
Cần khám bụng để tìm dấu hiệu nhạy đau (đặc biệt là nhạy đau khu trú), trướng bụng hoặc tiếng óc ách (dùng ống nghe đặt trên thành bụng để nghe tiếng óc ách khi lắc bụng) trong trường hợp tắc ruột hoặc tắc môn vị.
Nên đặc biệt chú ý những vùng thường có thoát vị. Âm ruột có thể nghe vang trong tắc ruột cơ học hoặc không nghe được trong liệt ruột. Nếu có các dấu hiệu khi khám bụng, nên hội chẩn ngoại khoa ngay.

Xét nghiệm thăm dò

Nhiều trường hợp cần làm xét nghiệm thăm dò. Các xét nghiệm sinh hóa cơ bản gồm có (tùy trường hợp):
• điện giải đồ và chức năng thận
• công thức máu đầy đủ
• men tụy và men gan
• glucose.
Nếu nghi tắc ruột non, cần xem xét chụp X-quang ở tư thế đứng và nằm ngửa. Tuy vậy, cần nhớ rằng X-quang thiếu độ đặc hiệu và độ nhạy (Hasler WL, Chey WD, 2003). Hình ảnh của chúng có thể bình thường trên bệnh nhân bị tắc ruột không hoàn toàn/bán cấp và viêm dạ dày-ruột cấp có thể gây dãn nở ruột non và có mức mước-hơi.

Xử trí

Khi đã loại trừ được nguyên nhân ngoại khoa và bệnh lý quan trọng, cần bù dịch tốt nhất là bằng đường uống và dùng thuốc chống nôn ói dạng uống hoặc tiêm bắp. Có thể cho bệnh nhân về nhà kèm lợi dặn quay lại bệnh viện nếu triệu chứng xấu đi hoặc không cải thiện. Nếu không thể điều trị ngoại trú, cần truyền dịch tĩnh mạch và dùng thuốc tiêm chống nôn. Các thuốc chống nôn được chọn bao gồm: metaclopramide (uống hoặc tiêm [nên thận trọng khi dùng ở phụ nữ trẻ vì nguy cơ có cơn trợn mắt]); prochlorrperazine (uống, tọa dược, hoặc tiêm); hay ondansetron (uống hoặc tiêm). Thường không cần theo dõi đối với một đợt nôn/ói tự hạn chế.

Nôn ói mạn tính

Nguyên nhân

Bảng 3 trình bày những nguyên nhân chính của buồn nôn và ói mửa mạn tính. Nhiều bệnh đường tiêu hóa có triệu chứng buồn nôn kèm theo những triệu chứng khác. Nôn/ói sau bữa ăn gợi ý nguyên nhân ở đường tiêu hóa trên, bao gồm trào ngược dạ dày-thực quản, khó tiêu cơ năng, liệt dạ dày hoặc tắc dạ dày-ruột. Ói mửa trong tắc nghẽn lối ra ở dạ dày thường xảy ra khoảng một giờ sau khi ăn (mặc dù giờ giấc có thể thay đổi khác nhau). Bệnh sprue, loét dạ dày-tá tràng, bệnh ác tính đường tiêu hóa trên, viêm gan hoặc cung thư tụy có thể có triệu chứng buồn nôn và ói mửa trong bệnh cảnh chung, nhưng đôi khi có thể là triệu chứng chính. Nhiễm Helicobacter pylori không biến chứng không phải là nguyên nhân của ói mửa mạn tính (Saad RJ 2006).
Bảng 3. Nguyên nhân buồn nôn và ói mửa mạn tính

Do thuốc gây ra
• Thuốc được kê toa
• Rượu
• Chất gây nghiện
– cần sa
– á phiện
Bệnh đường tiêu hóa
• Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản
• Khó tiêu cơ năng
• Liệt dạ dày
• Loét dạ dày-tá tràng
• Bệnh Crohn
• Thoát vị ruột cách hồi
Bệnh lý nội khoa toàn thân
• Tăng urê-máu
• Cường giáp/nhược giáp
• Tăng calci-máu
• Bệnh Addison
• Suy tim
Bệnh ác tính ẩn ở
• Tụy
• Phổi
• Hệ nội tiết
• Dạ dày-ruột
Bệnh lý thần kinh
• Tăng áp lực trong sọ
• Đau đầu migrain
• Rối loạn mê đạo
Nguyên nhân tâm thần/cơ năng/vô căn
• Trầm cảm/loạn thần
• Lo âu
• Buồn nôn cơ năng
• Hội chứng ói mửa theo chu kỳ

Liệt dạ dày

Liệt dạ dày là một bệnh trạng chưa được hiểu rõ, trong đó dạ dày tháo rỗng chậm, được giả định là do rối loạn vận động dạ dày hoặc tá tràng. Dạ dày không thể tống xuất hết thức ăn và chất tiết dẫn đến căng trướng, tức bụng, buồn nôn và ói mửa. Mối quan hệ giữa độ nặng của liệt dạ dày và các triệu chứng tương đối kém rõ ràng vì những lý do chưa được biết rõ, và cần nhớ rằng bản thân buồn nôn cũng có thể làm chậm tháo rỗng dạ dày. Liệt dạ dày có thể xảy ra sau mổ dạ dày (một nguyên nhân ngày càng hiếm thấy) hoặc do những bệnh như tiểu đường lâu ngày hoặc xơ cứng bì. Trên bệnh nhân còn trẻ, liệt dạ dày thường là vô căn, đôi khi được cho là do ‘virus’ vì xảy ra sau một đợt nhiễm virus.

Bệnh nội khoa tiềm ẩn

Các bệnh lý thần kinh bao gồm tăng áp lực trong sọ, đau đầu migrain, động kinh co giật và rối loạn mê đạo. Chóng mặt, các triệu chứng thần kinh, cứng cổ hoặc nhức đầu gợi ý một nguyên nhân thần kinh. Các nguyên nhân nội tiết bao gồm tăng calci-máu, nhược giáp và bệnh Addison. Suy tim nặng có thể gây buồn nôn do sung huyết gan và ruột. Sốt, đổ mồ hôi đêm và sút cân có thể xảy ra trong bệnh ác tính.

Nôn ói cơ năng

Buồn nôn và ói mửa không rõ nguyên nhân có thể là nôn ói cơ năng.

Đánh giá và chẩn đoán

Bệnh nhân cần được hỏi bệnh sử và thăm khám toàn diện.

Bệnh sử

Bệnh sử có thể gợi ý nguyên nhân nôn ói, nhưng cần lưu ý rằng triệu chứng có thể là những dấu hiệu dự báo kém cho bệnh lý thực thể so với rối loạn cơ năng, vì ngay cả sút cân nhiều cũng có thể xảy ra trong một bệnh cơ năng (Spiller RC, 2003), Về mặt dịch tễ, những yếu tố tiên đoán tốt nhất cho bệnh thực thể là giới nam và lớn tuổi (Spiller RC, 2003). Tình trạng kiệt sức, số lần đi khám bệnh, thời gian nghỉ việc, các triệu chứng ‘cơ năng’ đi kèm như đau đầu và đau mạn tính, dùng thuốc hướng thần, và xét nghiệm H. pylori âm tính đều là những yếu tố tiên đoán cho rối loạn cơ năng.
Nên tìm sự liên quan với sự thay đổi trong việc dùng thuốc, với bất kỳ thuốc nào được xem là nguyên nhân tiềm năng, kể cả thuốc mua không cần toa, ‘thuốc tự nhiên’, vitamin hoặc dược thảo, cũng như các loại thuốc bổ và thực phẩm chức năng. Những thuốc thường gây nôn ói gồm có thuốc họ á phiện, thuốc kháng viêm không-steroid, thuốc dopaminergic (ví dụ levodopa), digoxin, thuốc kháng sinh (ví dụ doxycyclin và sulphonamid), thuốc hạ đường huyết dạng uống và thuốc đường tiêu hóa (ví dụ sulfasalazin). Cần chú ý hỏi kỹ tình trạng nghiện rượu nặng. Buồn nôn do dùng cần sa lâu ngày có đặc điểm là được cải thiện khi tắm nước nóng (Wallace D và cs, 2007).
Ói mửa buổi sáng thường kết hợp với thai nghén, tăng urê-máu, uống rượu và tăng áp lực trong sọ. Ói mửa do nguyên nhân thần kinh thường ói thành vòi và phụ thuộc tư thế, trong khi các rối loạn cơ năng thường gây ra các triệu chứng liên tục.

Thăm khám

Việc thăm khám nên tập trung chú ý đến các bệnh nội khoa toàn thân và các bệnh tiêu hóa được nêu trong Bảng 3, cùng với việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thần kinh. Trên người lớn, hiếm khi bệnh trong sọ chỉ có triệu chứng ói mửa đơn thuần (Quigley EM và cs, 2001). Nếu không có các triệu chứng khác, chỉ xét đến nguyên nhân thần kinh khi ói mửa kéo dài và nặng mà không có lý do giải thích được.

Xét nghiệm thăm dò

Sau khi đánh giá lâm sàng đầy đủ và thăm dò bước đầu, có thể tìm ra hoặc nghi ngờ một nguyên nhân nào đó gây ra các triệu chứng của bệnh nhân, và có thể bắt đầu điều trị. Nếu nghi thuốc chống trầm cảm/lo âu gây ra triệu chứng nôn ói thì nên sớm loại bỏ hoặc thay thế thuốc này, và nếu triệu chứng được cải thiện thì không cần xét nghiệm thăm dò thêm. Nếu không tìm ra nguyên nhân khi đánh giá ban đầu, cần quyết định xem nên xét nghiệm thăm dò thế nào cho thích hợp và việc này cần phải dựa vào hoàn cảnh lâm sàng. Trong khi chờ đợi, có thể thử điều trị với một thuốc chống nôn nếu không có các triệu chứng báo động, tuy rằng hiệu quả kinh tế của việc điều trị thử này chưa được đánh giá. Thay đổi chế độ ăn cũng có thể có ích, với việc chia nhỏ thành nhiều bữa ăn, giảm lượng mỡ và thức ăn nhiều gia vị hoặc tránh dùng các thức ăn được để ý là gây nôn.
Việc xét nghiệm thăm dò cần điều chỉnh phù hợp với tình huống lâm sàng, tập trung vào những nguyên nhân tiềm năng và các hậu quả chuyển hóa/dinh dưỡng, và có thể bao gồm những xét nghiệm thăm dò được liệt kê trong Bảng 4.
Nội soi tiêu hóa trên là test chẩn đoán nhạy và đặc hiệu nhất đối với các tổn thương niêm mạc và nên làm sinh thiết tá tràng để đánh giá bệnh sprue, nhiễm khuẩn hoặc viêm ruột bạch cầu ái toan. Có thể nghi liệt dạ dày khi nội soi thấy còn thức ăn trong dạ dày. Các xét nghiệm thăm dò thêm bằng chụp cắt lớp điện toán (CT) bụng để tìm tắc nghẽn, u bướu, bệnh gan-mật hoặc tuyến tụy. Chụp X-quang ruột non hàng loạt hiếm khi hữu ích, nhưng có thể có giá trị nếu được thực hiện khi có các triệu chứng cấp tính để chẩn đoán thoát vị kín (CT có cản quang có lẽ sẽ tốt hơn trong trường hợp này) ).
Có thể phải cần gửi xét nghiệm chuyên khoa tiêu hóa hoặc thần kinh, bao gồm khảo sát sự tháo rỗng dạ dày (để chính thức đánh giá liệt dạ dày – nếu bệnh nhân là người tiểu đường cần đánh giá khi đường huyết bình thường, vì nồng độ glucose cao trong máu có thể làm chậm tháo rỗng dạ dày) và chụp cộng hưởng từ (MRI) não nếu nghi có bệnh lý trong sọ.
Đánh giá tâm lý hoặc tâm thần có thể có ích nếu vẫn không tìm được nguyên nhân gây ra triệu chứng, nhưng việc này cần được giải thích cặn kẽ và bàn bạc với bệnh nhân. Một số bệnh nhân bị nôn ói mạn tính đã từng đi khám nhiều nơi và rất nhạy cảm với việc triệu chứng của họ được bác sĩ cho là tầm thường hoặc do ‘bệnh tưởng’ mà ra.
Khi nghi ngờ một nguyên nhân tâm thần hoặc cơ năng, nên giải thích cho bệnh nhân biết là ruột có một hệ thần kinh hoàn chỉnh và được kết nối rộng rãi với bộ não. Khi ấy, sẽ dễ dàng để giới thiệu khái niệm rằng những sự kết nối ấy ‘có vấn đề’ và đó có thể là nguyên nhân gây ra triệu chứng. Ngôn ngữ thường ngày có rất nhiều cách diễn đạt cho thấy mối quan hệ khăng khít giữa não và ruột trong tình huống xúc động hoặc stress: ‘ruột gan rối bời’, ‘lòng như lửa đốt’, ‘thấy muốn ói’, ‘tức cành hông’, ‘rầu thối ruột’,… Có thể dùng những ví dụ ấy để chứng minh cho bệnh nhân thấy cảm xúc và stress có thể kết hợp với cảm giác ở đường tiêu hóa.

Xử trí

Trên bệnh nhân bị buồn nôn và ói mửa mạn tính mà không tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì điều trị thuốc chống nôn là một việc làm đầy thách thức, đặc biệt khi có triệu chứng nặng. Dùng cốm ondansetron cách hồi (để được hấp thu nhanh không phụ thuộc vào sự tháo rỗng dạ dày), tuy đắt tiền nhưng có thể dùng như một điều trị giải nguy khi triệu chứng xảy ra từng đợt. Maxalon, Stemetil, hoặc domperidone cũng có thể hữu ích. Những thuốc này có thể dùng kéo dài nhưng làm tăng nguy cơ tác dụng phụ ngoài tháp. Nôn ói mạn tính có thể đáp ứng với một liều thấp thuốc chống trầm cảm ba vòng (ví dụ amitrytalin 30 mg ban đêm, bắt đầu với liều 10 mg rồi từ từ tăng dần).
Tóm tắt các điểm quan trọng
• Phần lớn các trường hợp nôn ói cấp tính đều tự hạn chế và mục đích của việc đánh giá là giảm biến chứng và tầm soát các nguyên nhân quan trọng có thể điều trị được (đặc biệt là nguyên nhân ngoại khoa). Trong nhiều trường hợp, có thể chẩn đoán sau khi hỏi bệnh, đầy đủ, thăm khám và/hoặc làm những xét nghiệm thăm dò đơn giản.
• Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa và ngộ độc thức ăn chiếm đa số các trường hợp nôn ói cấp tính.
• Phải luôn luôn nghi ngờ các tác dụng phụ của thuốc nếu gần đây mới bắt đầu dùng hoặc thay đổi liều lượng.
• Phải nghĩ đến thai nghén trên phụ nữ tuổi sinh đẻ.
• Cần cho nhập viện những trường hợp có bất thường chuyển hóa nặng, mất nước hoặc nghi ngờ nguyên nhân ngoại khoa.
• Trong nôn ói mạn tính, với nhiều nguyên nhân tiềm năng, cần hỏi bệnh sử và thăm khám toàn diện.
• Triệu chứng là những dấu hiệu dự báo kém cho bệnh thực thể so với rối loạn cơ năng.
• Hoàn cảnh xuất hiện nôn ói và bệnh cảnh lâm sàng là yếu tố chính chi phối việc chọn lựa chủng loại và phạm vi xét nghiệm thăm dò và việc thăm dò thêm phải thích ứng phải từng bệnh nhân cụ thể.
• Có thể điều trị thử bằng thuốc chống nôn ói hoặc thay đổi chế độ ăn trong khi chờ làm xét nghiệm thăm dò chuyên sâu.

Theo Andrew Metz & Geoff Hebbard, Australian Family Physician 2007; 36(9):688-92

Dowload pdf

Ung thư dạ dày, nhiễm helicobacter pylori và các yếu tố nguy cơ khác

Mở đầu

Ung thư vẫn là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau bệnh tim mạch và bệnh nhiễm khuẩn. Năm 2002, ung thư dạ dày là loại ung thư phổ biến hàng thứ tư trên thế giới, với hơn 900.000 ca bệnh mới [Kamangar F và cs, 2006] và gần hai phần ba số trường hợp xảy ra ở các nước đang phát triển [Stewart BW & Kleihues P, 2003]. Tuy nhiên, ung thư dạ dày không có sự phân bố theo địa lý rõ rệt. Thật vậy, những nước có tỉ lệ thấp (như Ấn Độ) cũng là nước ở trong khu vực có nguy cơ cao nhất (tức châu Á). Tương tự, trong quần thể nguy cơ thấp, cũng có những phân nhóm có nguy cơ cao hơn (ví dụ người Hàn Quốc sống ở Mỹ) [Parkin DM và cs, 2002; Lambert R và cs, 2002].
Trong dân số chung, nguy cơ chuẩn hóa theo tuổi ở nam cao gần gấp đôi ở nữ. Ngoài ra, xuất độ ở phụ nữ ở một tuổi bất kỳ tương đương với xuất độ ở nam giới trẻ hơn 10 tuổi [Parkin DM và cs, 2002].
Trừ Nhật Bản, nơi mà các chương trình tầm soát đại trà đã giúp tăng tỉ lệ sống sót 5 năm lên khoảng 60%, ở phần lớn các nơi khác trên thế giới chỉ có 20% số bệnh nhân ung thư dạ dày là còn sống sau 5 năm [Parkin DM, 2001; Roukos DH & Kappas AM, 2005; Cunningham SC và cs, 2005].
Tỉ lệ tử vong chịu ảnh hưởng của một số yếu tố: xuất độ ung thư, giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán, các yếu tố sinh học và đáp ứng cá nhân đối với điều trị đang dùng. Do đó, mọi can thiệp nhằm làm giảm xuất độ ung thư (tức loại trừ/thay đổi những yếu tố nguy cơ tiềm năng và/hoặc khuyến khích các yếu tố bảo vệ), chẩn đoán sớm (tức nhận diện và theo dõi những bệnh nhân tăng nguy cơ) hoặc cải thiện sự tiếp cận chăm sóc sức khỏe, sẽ giúp giảm tỉ lệ tử vong ung thư.Các yếu tố nguy cơ của ung thư dạ dày

Một số yếu tố nguy cơ đã được nhận diện đối với ung thư dạ dày ngoài tâm vị: nhiễm Helicobacter pylori, tình trạng kinh tế-xã hội thấp, hút thuốc, ăn thức ăn ướp muối và xông khói, ít dùng rau quả, và tiền sử gia đình có bệnh ung thư dạ dày.

Helicobacter pylori

Nhiễm H. pylori là một trong những nhiễm khuẩn hay gặp nhất trên người, dù tỉ lệ lưu hành thay đồi khá lớn giữa những nước khác nhau. Tỉ lệ nhiễm được nhận thấy giảm dẩn ở những khu vực có đời sống kinh tế-xã hội cao [Malaty HM, 2007]. Từ khi được khám phá vào năm 1984, H. pylori đã được thừa nhận là một nguyên nhân quan trọng của một số bệnh đường tiêu hóa trên, như loét dạ dày-tá tràng, ung thư biểu mô tuyến dạ dày, và lymphoma tế bào B nguyên phát ở dạ dày [Suerbaum S & Michetti P, 2002].
Nhiễm H. pylori là một yếu tố nguy cơ mạnh và đã được biết rõ của ung thư dạ dày và được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp loại là tác nhân gây ung thư nhóm 1 [IARC, 1994]. Đã có một số cơ chế bệnh sinh được đề xuất để giải thích vì sao nhiễm H. pylori có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, nhưng phần lớn các tác giả đều cho rằng tình trạng viêm mạn tính lâu ngày là cơ chế chính [Naumann M & Crabtree JE, 2004; Correa P & Houghton J., 2007].
H. pylori có khả năng thích nghi đặc biệt để sống trong môi trường acid thù địch ở dạ dày và sự trú đóng của H. pylori gây nên viêm dạ dày ở hầu hết số đối tượng bị nhiễm vi khuẩn này. Sự bám dính của vi khuẩn vào tế bào biểu mô gây nên một đáp ứng viêm, với sự tập trung của bạch cầu trung tính rồi sau đó là các tế bào lymphô B và T, đại thực bào và tương bào, phần lớn đều sản sinh một lượng lớn các nhóm ôxy hoặc nitơ phản ứng [Zhang QB và cs, 1996], những gốc tự do gây hư tổn tế bào biểu mô và sinh ung thư [Pignatelli B và cs, 1998; Wang YZ và cs, 2005].
Sự hư tổn niêm mạc dạ dày do nhiễm H. pylori còn có thể vì các yếu tố độc lực của vi khuẩn được mã hóa bởi “cag pathogenicity island” [Tên gọi đầy đủ là cytotoxin-associated gene pathogenicity island (cag-PAI), một hệ thống phân tiết týp IV (T4SS) đặc biệt, được mã hóa bởi các chủng Helicobacter pylori týp 1. T4SS được vi khuẩn sử dụng để trao đồi chất, ADN hoặc protein với môi trường bên ngoài (ND).], như cyto-toxin A tạo không bào (VacA) và protein CagA (CagA). VacA là một toxin được vi khuẩn tiết ra và đi vào màng tế bào biểu mô, tạo không bào và ảnh hưởng các ti thể, dẫn đến vong bào (apoptosis) [Galmiche A và cs, 2000; Kuck D và cs, 2001]. Trái lại, CagA khi vào trong tế bào biểu mô lại gây phát tín hiệu tăng sinh và vận động, cũng như sản xuất các cytokin [Keates S, và CS. 1999]. CagA gây nên sự biến đổi hình thái tế bào ký chủ qua cơ chế tương tác với protein SHP-2, một tyrosin phosphatase trong bào tương [Higashi H và cs, 2002]. Thật vậy, sau khi vào trong tế bào, trước tiên CagA được tyrosin-phosphoryl hóa bởi họ kinase Src, rồi sau đó gắn với SHP-2. Vì SHP-2 có vai trò quan trọng trong các hiện tượng tải nạp (transduction) do nhiều thụ thể tyrosin kinase khác nhau thực hiện, nên CagA gây rối loạn chức năng tế bào bằng cách làm mất chức năng điều hòa của SHP-2, ức chế sự tái phối trí khung tế bào, sự tăng sinh và làm tăng chuyển động trong tế bào biểu mô dạ dày [Higashi H và cs, 2002; 2004].
Ngoài ra, có giả thiết cho rằng tính đa hình của cag, vốn nằm trong chuỗi mã hóa gốc tyrosin, có thể là những biến số thiết yếu của kết cục lâm sàng khi bị nhiễm bởi các chủng H. pylori cag+ khác nhau. Thật vậy, H. pylori có thể chia thành hai phân nhóm chính dựa trên sự tyrosin-phosphoryl hóa/vị tri gắn SHP-2 khác nhau về mặt cấu trúc: chủng cag+ Đông Á và chủng cag+ phương Tây. Cụ thể, bệnh nhân bị nhiễm chủng Đông Á có tăng đáp ứng viêm, tổn thương tiền ung thư dạ dày ở mức cao hơn và có nguy cơ ung thư dạ dày lớn hơn so với bệnh nhân nhiễm các chủng vi khuẩn phương Tây [Higashi H và cs, 2004; Fock KM và cs, 2008].
Hơn nữa, nhiễm H. pylori cag+ làm tăng biểu hiện COX-2 ở niêm mạc dạ dày và ung thư [Guo XL và cs, 2003]. COX-2 thường không phát hiện được trong mô bình thường và trở nên phong phú ở nơi bị viêm và cũng có thể biểu hiện thái quá trong ung thư dạ dày. Sự biểu hiện thái quá của COX-2 dẫn đến tăng tổng hợp và phóng thích prostaglandin, như PGE2 chẳng hạn. Sự gia tăng prostaglandin này thúc đẩy quá trình sinh ung thư bằng cách đẩy mạnh tăng sinh tế bào, ức chế vong bào và làm tăng tính xâm lấn của tế bào ác tính [Yamac D và cs, 2008]. Sự biểu hiện COX-2 giảm đáng kể sau khi tiệt trừ H. pylori trên bệnh nhân viêm teo dạ dày, khẳng định vai trò then chốt của vi khuẩn trong cơ chế bệnh sinh qua COX-2 [Konturek PC và cs, 2003].
Ngày càng có nhiều bằng chứng khẳng định tầm quan trọng của sự biến thiên di truyền trong cơ chế bệnh sinh của ung thư dạ dày và những tổn thương tiền ung thư. Tính đa dạng cơ năng của TLR4, một thụ thể lipopolysaccharide (LPS) trên bề mặt tế bào tham gia vào sự nhận biết H. pylori và đáp ứng của ký chủ, có sự kết hợp với tăng mức độ viêm với sự hư tổn mô nặng trên người bị nhiễm H. pylori. Cụ thể, người mang tính đa dạng TLR4+896A>G có nhiều khả năng teo dạ dày và viêm nặng hơn và cũng tăng nguy cơ ung thư dạ dày ngoài tâm vị [Hold GL và cs, 2007].
Sau cùng, tính đa dạng và độ biến thiên di truyền của các yếu tố bệnh sinh thiết yếu như các gen cagA, TRL4 và SHP2 tỏ ra ảnh hưởng đến tiềm năng sinh ung thư của các chủng H. pylori. Do đó, điều quan trọng là nhận ra và phân biệt các chủng H. pylori hay gây ung thư và nhận diện những quần thể nguy cơ cao về mặt di truyền dễ mắc ung thư dạ dày.
Tuy có nhiều cơ chế phân tử khẳng định vai trò của H. pylori trong ung thư dạ dày, nhưng nhiễm H. pylori không được xem là ‘điều kiện đủ’ để phát bệnh ung thư [Fock KM và cs, 2008]. Thật vậy, chỉ một thiểu số đối tượng nhiễm vi khuẩn bị ung thư dạ dày, vì có nhiều yếu tố ký chủ và môi trường tác động hiệp lực trong căn bệnh đa yếu tố này.

Chế độ ăn

Chế độ ăn chắc chắn có một vai trò then chốt trong sự phát triển ung thư, như đã thấy với sự thay đổi xuất độ trên người nhập cư tùy theo nơi họ sống. Có nhiều bằng chứng khác nhau (từ các nghiên cứu sinh thái, bệnh-chứng và thuần tập) gợi ý rằng ăn nhiều thức ăn ướp muối, hoặc ăn mặn, cũng như nitrosamin trong cá xông khói và rau củ ngâm giấm (dưa chua) “có lẽ” làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, như nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới/Tổ chức Lương Nông [WHO/FAO, 2003]. Thật vậy, sự biến thiên của tỉ lệ tử vong ung thư dạ dày theo vùng địa lý trên thế giới, đặc biệt là ở Nhật Bản, có tương quan với mức tiêu thụ muối hàng ngày [Joossens JV và cs, 1996]. Hơn nữa, sự giảm thấp xuất độ ung thư dạ dày ở Mỹ và châu Âu kết hợp với sự sử dụng rộng rãi phương pháp bảo quản lạnh thực phẩm hơn là ướp muối hoặc xông khói, và sự gia tăng tiêu thụ rau quả tươi.
Tuy nhiên, người ta vẫn chưa chứng minh được thành phần nào trong rau quả có tác dụng bảo vệ này. Stress ôxy-hóa có thể gây đột biến gen, điều biến chương trình vong bào và thúc đẩy quá trình sinh ung thư dạ dày [Thomson A và cs, 1998]. Do đó, các chất bổ sung chống ôxy-hóa (ví dụ β-caroten, α-tocopherol và vitamin C) đã được thăm dò rộng rãi nhưng những số liệu tốt nhất hiện có không cho thấy bất kỳ tác dụng có lợi nào trong việc đề phòng ung thư dạ dày [Bjelakovic G và cs, 2004].
Rất có thể nhiễm H. pylori và các yếu tố ẩm thực tác động hiệp lực với nhau để thúc đầy sự phát triển ung thư dạ dày. Những nghiên cứu tiền cứu trên người gặp những khó khăn về mặt phương pháp và hậu cần khi phải khảo sát cùng một lúc nhiều nguyên nhân hội tụ của bệnh. Thật vậy, để duy trì sự kiểm soát chặt chế độ ăn và hiện trạng nhiễm H. pylori rõ ràng là không thể thực hiện trong các nghiên cứu trên toàn bộ dân số. Do đó, một số mô hình thực nghiệm trên động vật đã được phát triển. Bằng chứng gần đây nhất, dựa trên các nghiên cứu thực hiện trên loài linh trưởng, gợi ý rằng nhiễm khuẩn lâu ngày đơn thuần hoặc chỉ ăn thực phẩm có nitrosamin có thể gây viêm niêm mạc dạ dày nhưng không gây ung thư, tuy rằng ung thư sẽ phát triển khi đồng thời có cả hai yếu tố này [Liu H và cs, 2009].

Bảng 1. Thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng với xuất độ ung thư dạ dày là số đo kết cục chính

Nghiên cứu Tỉnh, Nước Xuất độ ung thư dạ dày trong dân số chung Số bệnh nhân được ngẫu nhiên hóa
(điều trị/đối chứng)
Thời gian theo dõi Số bệnh nhân ung thư dạ dày
(điều trị/đối chứng)
Wong và cs, (2004) Phúc Kiến, Trung Quốc 99 ca /100 000 người/ năm 817/813 7,5 năm 7/11
(0,9%/1,4%)
Fukase và cs, (2008) Nhật Bản 62 ca /100 000 người/ năm 272/272 3 năm 9/24
(3,3%/8,8%)

Tiền sử gia đình và các hội chứng di truyền

Khoảng 10% số bệnh nhân ung thư dạ dày có thân nhân mắc bệnh này trong tiền sử gia đình, và ung thư dạ dày di truyền chỉ chiếm 1%-3% số trường hợp [Yaghoobi M và cs, 2010; Palli D và cs, 1994]. Nhiều nghiên cứu báo cáo sự gia tăng nguy cơ phát bệnh cao gấp 1,5 đến 3,5 lần trên thân nhân bậc một của bệnh nhân ung thư dạ dày [Dicken BJ và cs, 2005]. Hơn nữa, trong nghiên cứu của Brenner và cộng sự được công bố năm 2000, tiền sử gia đình ung thư dạ dày cho thấy một nguy cơ tương đối là 2,9 (KTC 95%: 1,3-6,5) và sự phát triển bệnh cũng kết hợp với tỉ lệ nhiễm H. pylori tăng cao. Đáng lưu ý là sự hiện diện của cả hai yếu tố (tiền sử gia đình ung thư dạ dày và nhiễm H. pylori) làm tăng nguy cơ phát bệnh gấp 8 lần. Có khi ung thư dạ dày được mô tả là một phần của một số hội chứng ung thư di truyền, như bệnh pôlýp u tuyến gia đình, hội chứng Peutz-Jeghers và hội chứng ung thư đại tràng gia đình không phải bệnh pôlýp.
Năm 1998, Guilford và cộng sự đã báo cáo những trường hợp đầu tiên của ung thư dạ dày lan tỏa di truyền (HDGC) [Caldas C và cs, 1999]. Các tác giả giới thiệu ba gia đình có ung thư dạ dày lan tỏa khởi phát sớm ở nhiều thế hệ. Ở cấp độ phân tử, các đột biến giao tử ở gen E-cadherin (CDH1) được tìm thấy ở những gia đỉnh này. Vì vậy, trong những gia đình có ít nhất hai người bị ung thư dạ dày lan tỏa, và ít nhất là một trường hợp khởi phát sớm (được chẩn đoán trước 50 tuổi), nên khuyến nghị xét nghiệm đột biến [Brooks-Wilson AR và cs, 2004]. Sau cùng, trên các đối tượng mang những đột biến gen CDH1 có hại, việc theo dõi nội soi tích cực không có gì bảo đảm và cách điều trị tiệt căn được đề nghị hiện nay là cắt bỏ dạ dày dự phòng để tránh sự phát triển căn bệnh chết người này.

Thanh toán Helicobacter pylori và nguy cơ ung thư dạ dày

Nhiễm H. pylori rõ ràng có sự tương quan với cơ chế bệnh sinh ung thư dạ dày. Bằng chứng ủng hộ mạnh nhất cho mối liên kết giữa nhiễm H. pylori và sự phát triển ung thư dạ dày là từ các nghiên cứu thuần tập tiền cứu. Một phân tích gộp các dữ liệu từ 12 nghiên cứu thuần tập tiền cứu cho thấy nguy cơ tăng gấp 6 lần sau 10 năm theo dõi [Helicobacter and Cancer Collaborative Group, 2001].
Tuy vậy, vẫn chưa khẳng định chắc chắn là liệu thanh toán H. pylori có phải là một chiến lược hóa dự phòng hữu hiệu để giảm nguy cơ ung thư dạ dày hay không. Đặc biệt, chỉ có hai nghiên cứu can thiệp, ngẫu nhiên, đối chứng [Wong BC và cs, 2004; Fukase K và cs, 2008] trong đó sự phát triển ung thư dạ dày là số đo kết cục chính (Bảng 1). Hai nghiên cứu này đều được thực hiện ở vùng có nguy cơ cao ung thư dạ dày là Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, hai nghiên cứu ấy có thiết kế khác nhau. Nghiên cứu của Wong và cộng sự là nghiên cứu đối chứng giả dược và thu nhận bệnh nhân có hoặc không có tổn thương tiền ung thư ở dạ dày (ví dụ teo, dị sản hoặc loạn sản ruột), nhưng bệnh nhân có ung thư dạ dày giai đoạn đầu bị loại ra (Bảng 2). Trái lại, nghiên cứu của Fukase và cộng sự là nghiên cứu mở, thu nhận bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn đầu, mới được chẩn đoán hoặc được sắp xếp điều trị nội soi hoặc đang được theo dõi sau mổ cắt dạ dày (Bảng 2). Những bệnh nhân này được phân ngẫu nhiên để điều trị thanh toán vi khuẩn hoặc không điều trị.
Bảng 2. Mô học ban đầu trong các nghiên cứu với xuất độ ung thư dạ dày là số đo kết cục chính
Bảng 2. Mô học ban đầu trong các nghiên cứu với xuất độ ung thư dạ dày là số đo kết cục chính

Nghiên cứu Mô học ban đầu
Viêm dạ dày Teo Dị sản ruột Loạn sản Ung thư dạ dày sớma
Wong và cs, (2004) + + + +
Fukase và cs, (2008) + + +
aUng thư dạ dày sớm là ung thư mới chẩn đoán và có kế hoạch điều trị nội soi hoặc theo dõi sau mổ. +: được nhận vào; -: không được nhận vào

Trong nghiên cứu của Wong và cộng sự [2004], có 1630 bệnh nhân nhiễm H. pylori được được thu nhận và trong 7 năm theo dõi, có 7 trên 817 (0,9%) đối tượng ở nhóm thanh toán vi khuẩn và 11 trên 813 (1,3%) đối tượng nhóm giả dược phát bệnh ung thư dạ dày (P = 0,33). Tuy nhiên, phát hiện đáng quan tâm nhất là từ một phân tích hậu nghiệm. Ở nhóm điều trị thuốc có hoạt tính, không có bệnh nhân nào mà xét nghiệm mô học ban đầu cho thấy không có tổn thương tiền ung thư bị phát bệnh ung thư. Trái lại, tất cả bệnh nhân bị phát bệnh ung thư dạ dày đều có tổn thương tiền ung thư khi nhận vào nghiên cứu. Wong và cộng sự kết luận rằng điều trị thanh toán vi khuẩn nhằm mục đích dự phòng chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của quá trình sinh ung thư, trước khi phát triển các tổn thương tiền ung thư, và họ gợi ý một “điểm bất khả hồi (“ point of no return”) trong chuỗi sự kiện dẫn đến ung thư dạ dày.
Trong một nghiên cứu đa trung tâm, Fukase và cộng sự [2008] đã thu nhận 544 bệnh nhân, và sau 3 năm theo dõi thấy có 9 trên 272 bệnh nhân ở nhóm điều trị tiệt trừ vi khuẩn và 24 trên 272 bệnh nhân ở nhóm không điều trị bị phát bệnh ung thư dạ dày. Điều trị thanh toán vi khuẩn làm giảm có ý nghĩa nguy cơ phát triển ung thư sau điều trị nội soi, với OR = 0,353 (KTC 95%: 0,161-0,775, P = 0,009). Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về tác dụng dự phòng của điều trị thanh toán H. pylori thậm chí trong các giai đoạn sau của quá trình sinh ung thư, hoàn toàn trái ngược với kết luận của Wong và cộng sự. Có nhiều lý do có thể giải thích cho sự khác biệt này: thiết kế nghiên cứu, cỡ mẫu, kỹ thuật đánh giá nội soi, định nghĩa mô học và thời gian theo dõi.
Hơn nữa, một kết luận quan trọng khác có thể rút ra từ hai nghiên cứu trên là ung thư dạ dày có thể tiếp tục phát triển dù đã thanh toán H. pylori và bắt buộc phải theo dõi nội soi để chẩn đoán sớm. Kết luận này càng được củng cố bởi một tổng phân tích các nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng mới được công bố gần đây, so sánh nhóm điều trị thanh toán vi khuẩn với nhóm giả dược hoặc nhóm không điều trị, cung cấp số liệu về số ung thư dạ dày đã phát triển trong giai đoạn theo dõi sau nghiên cứu [Fuccio Lvà cs, 2009]. Trong xét nghiệm mô học lúc ban đầu, phần lớn các đối tượng đều có chẩn đoán teo dạ dày, dị sản hoặc loạn sản ruột. Qua thời gian theo dõi từ 4 đến 10 năm, có 33 trên 3112 bệnh nhân (1,0%) đã điều trị thanh toán vi khuẩn bị phát bệnh ung thư dạ dày, so với 50 trên 3031 bệnh nhân đối chứng (1,6%); sự khác biệt này cho thấy nguy cơ tương đối là 0,65 (KTC 95%: 0,42-1,01, P = 0,05). Như vậy, điều trị tiệt trừ H. pylori làm giảm được chút ít nguy cơ dạ dày ngay cả trên các đối tượng đã có tổn thương tiền ung thư, dù rằng nguy cơ không bị triệt tiêu hẳn [Fuccio L và cs, 2009].
Theo các hướng dẫn hiện hành, phải xét nghiệm và điều trị nhiễm H. pylori trên bệnh nhân có tiền sử gia đình ung thư dạ dày, bị viêm teo dạ dày và sau mổ cắt bỏ dạ dày [Fock KM và cs, 2009]. Hơn nữa, trong những cộng đồng có xuất độ cao ung thư dạ dày, nên xem xét áp dụng chiến lược tầm soát và điều trị.
Cần có thêm các thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng đa trung tâm để khẳng định tác dụng dự phòng của việc thanh toán H. pylori trên nguy cơ ung thư dạ dày. Tuy nhiên, những nghiên cứu can thiệp như thế là khó khả thi vì lý do đạo đức, phương pháp và tài chính.

Sự phát triển ung thư dạ dày sau thanh toán Helicobacter pylori

Trong nghiên cứu của Fuccio L và cộng sự năm 2009), 1,0% số bệnh nhân vẫn phát triển ung thư dạ dày dù đã điều trị thanh toán H. pylori thành công. Gần đây, có báo cáo rằng khối u có thể phát triển sau nhiều năm điều trị thanh toán vi khuẩn [de Vries AC và cs, 2009]. Không nên quên rằng ung thư dạ dày, cũng như các loại u bướu khác, là một bệnh do nhiều yếu tố và giải quyết một yếu tố không thể ngăn ngừa được tất cả các trường hợp ung thư. Theo dõi nội soi vẫn rất cần thiết, đặc biệt là trên các đối tượng có nguy cơ cao. Tuy vậy, một định nghĩa rõ ràng thế nào là đối tượng “nguy cơ cao” vẫn còn là đề tài tranh cãi. Người ta đã biết rõ rằng nguy cơ ung thư dạ dày thay đổi tùy loại tổn thương tiền ung thư ban đầu. Thật vậy, một nghiên cứu thuần tập trên qui mô toàn quốc được thực hiện ở Hà Lan [de Vries AC và cs, 2009] cho thấy trong 5 năm đầu theo dõi, bệnh nhân có chẩn đoán loạn sản grade thấp thì nguy cơ ung thư hàng năm là 0,6%, còn ở bệnh nhân loạn sản grade cao thì nguy cơ này là 6,0%. Trái lại, bệnh nhân viêm teo dạ dày và dị sản ruột, theo thứ tự, có nguy cơ ung thư hàng năm là 0,1% và 0,25% trong 5 năm đầu theo dõi.
Do đó, những bệnh nhân có chẩn đoán lúc ban đầu là loạn sản phải được quản lý kỹ và theo dõi nội soi chặt chẽ hơn so với bệnh nhân viêm teo dạ dày hoặc dị sản ruột. Tuy vậy, hiện không có tài liệu hướng dẫn quốc tế nào ở các nước phương Tây gợi ý nên theo dõi nội soi ra sao, bao lâu một lần và kéo dài trong bao nhiêu năm trên bệnh nhân có tổn thương tiền ung thư ở dạ dày sau khi điều trị thanh toán H. pylori.
Trong tương lai, việc sử dụng thường qui hệ thống phân giai đoạn mô học mới được đề xuất (ví dụ như OLGA) [Fuccio L và cs, 2008; Fuccio L và cs, 2007] và việc nhận diện rõ hơn những yếu tố nguy cơ trên ký chủ và vi khuẩn có thể giúp phân loại chính xác hơn những bệnh nhân cần theo dõi nội soi.

Kết luận
Tuy xuất độ ung thư dạ dày đang giảm, nhưng còn quá sớm để cho rằng đây là bệnh ung thư hiếm gặp và tỉ lệ tử vong trên thế giới vẫn cao. Dự phòng cấp một là chiến lược khả thi vì phần lớn các yếu tố nguy cơ đều có thể loại bỏ được. Tuy nhiên, ung thư dạ dày là một bệnh do nhiều yếu tố nên việc giải quyết một yếu tố (ví dụ nhiễm H. pylori) không đề phòng được tất cả các trường hợp. Theo dõi nội soi vẫn cần thiết, đặc biệt là trên các đối tượng có nguy cơ cao. Dù định nghĩa bệnh nhân nguy cơ cao chưa được xác định rõ, nhưng sẽ hợp lý khi xem những bệnh nhân có tiền sử gia đình ung thư dạ dày, bệnh nhân có tổn thương tiền ung thư, và bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư dạ dày từ trước là người có nguy cơ cao. Tất cả các yếu tố nguy cơ dễ xử trí, như bỏ thuốc lá, ăn nhiều rau quả và điều trị tiệt trừ H. pylori, cần được xem như là chiến lược phòng bệnh. Định nghĩa bệnh nhân nguy cơ cao, cũng như việc tìm ra một chiến lược giám sát tốt nhất cho những bệnh nhân ấy. là sự thách thức trong tương lai.
Lorenzo F và cs., J Gastrointest Oncol 15/9/2010; 2(9): 342-347,

Người dịch: BS, Nguyễn Triển

Download pdf

Hướng dẫn dự phòng bệnh tim mạch ở phụ nữ dựa vào hiệu quả: cập nhật năm 2011 của hội tim hoa kỳ (aha)

Bệnh tim là nguyên nhân hàng đầu của tử vong ở phụ nữ tại các nước phát triển và phần lớn các nước có nền kinh tế đang phát triển. Do bệnh tim mạch của phụ nữ có ảnh hưởng trên sức khỏe và kinh tế với qui mô khắp thế giới, nên cần có những nỗ lực mạnh mẽ để kiểm soát các yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh tim mạch và áp dụng các hình thức trị liệu dựa vào chứng cứ trên phụ nữ. Năm 2004, Hội Tim Hoa Kỳ (AHA), phối hợp với nhiều tổ chức khác, đã mở rộng trọng tâm nghiên cứu chú ý hơn đến các khuyến nghị lâm sàng chuyên biệt theo giới và đã tài trợ cho dự án “Hướng dẫn dự phòng bệnh tim mạch ở phụ nữ dựa vào chứng cứ” và cập nhật những hướng dẫn này vào năm 2007. Kinh nghiệm cho thấy đại đa số các khuyến nghị dự phòng bệnh tim mạch đều tương tự nhau giữa nam và nữ, với một ít ngoại lệ chẳng hạn như aspirin được khuyên dùng một cách thường qui để dự phòng cấp một nhồi máu cơ tim trên nam giới, nhưng không được khuyên dùng ở phụ nữ (Mosca L, 2008; Berger JS và cs,2006).
Tuy nhiên, càng ngày người ta càng nhận thức được rằng có thể có những khác biệt theo giới về biên độ của những nguy cơ và lợi ích tiềm năng của các can thiệp dự phòng. Rõ ràng có những yếu tố nguy cơ đặc thù của phụ nữ (ví dụ mang thai) và khi mắc bệnh tim mạch phụ nữ thường lớn tuổi hơn và có nhiều bệnh đi kèm hơn so với nam giới. Những hướng dẫn hiện nay đều nói đến việc dự phòng các kết cục tim mạch do xơ vữa mạch máu và huyết khối, nhưng đa số dữ liệu được dùng để xây dựng những hướng dẫn này đều là số liệu lấy từ các nghiên cứu dự phòng bệnh mạch vành. Một bước tiến lớn từ tài liệu hướng dẫn cập nhật năm 2007 đến bản cập nhật 2011 là tính hiệu quả (lợi ích và nguy cơ được nhận thấy trong thực hành lâm sàng) của các liệu pháp dự phòng được xem xét kỹ hơn và các khuyến nghị không chỉ khu trú vào các chứng cứ chứng minh hiệu quả (lợi ích được nhận thấy trong các thử nghiệm lâm sàng); vì vậy có sự chuyển đổi từ các hướng dẫn “dựa vào chứng cứ” sang hướng dẫn “dựa vào tính hiệu quả” để phòng bệnh tim mạch trên phụ nữ.
Đánh giá nguy cơ bệnh tim mạch

Không hoạt động thể lực

Tiền sử gia đình có bệnh tim mạch sớm xảy ra ở thân nhân bậc một trên nam giới <55 tuổi hoặc phụ nữ <65 tuổi.

Hội chứng chuyển hóa

Có bằng chứng xơ vữa mạch máu rõ ràng dưới ngưỡng lâm sàng (ví dụ calci-hóa động mạch vành, mảng xơ động mạch cảnh hoặc dày lớp nội-trung mạc động mạch cảnh)
Khả năng gắng sức kém trên nghiệm pháp thảm lăn và/hoặc có nhịp tim bất thường sau khi ngừng vận động gắng sức

Bảng 1. Phân loại nguy cơ bệnh tim mạch ở phụ nữ

Trạng thái nguy cơ Tiêu chí
Nguy cơ cao (≥1 trạng thái nguy cơ cao) · Bệnh mạch vành có biểu hiện lâm sàng
· Bệnh mạch máu não có biểu hiện lâm sàng
· Bệnh động mạch ngoại biên có biểu hiện lâm sàng
· Phình động mạch chủ bụng
· Bệnh thận mạn tính hoặc giai đoạn cuối
· Tiểu đường
· Nguy cơ bệnh tim mạch 10 năm dự kiến ≥10%
Có nguy cơ (≥1 yếu tố nguy cơ quan trọng) · Hút thuốc
· HA tâm thu ≥120 mmHg, HA tâm trương ≥80 mmHg, hoặc cao huyết áp được điều trị
· Cholesterol toàn phần ≥200 mg/dL, HDL-C <50 mg/dL, hoặc được điều trị rối loạn lipid-máu
· Béo phì, đặc biệt là béo bụng
· Chế độ ăn thiếu lành mạnh
Sức khỏe tim mạch lý tưởng (có đủ tất cả các tiêu chí) · Cholesterol toàn phần <200 mg/dL (không điều trị)
· HA <120/<80 mmHg (không điều trị)
· Đường huyết lúc đói <100 mg/dL (không điều trị)
· Chỉ số thân khối <25 kg/m2
· Không hút thuốc
· Hoạt động thể lực đạt đích của người lớn >20 tuổi: ≥150 phút /tuần với cường độ vận động trung bình, ≥75 phút/tuần với vận động nặng
· Chế độ ăn lành mạnh

Bảng 2. Phân loại và mức chứng cứ

Phân loại và mức chứng cứ Độ mạnh khuyến nghị
Phân loại
Loại I Can thiệp hữu ích và có hiệu quả
Loại IIa Chứng cứ/ý kiến có sức nặng ủng hộ cho sự hữu ích/hiệu quả
Loại IIb Chứng cứ/ý kiến ủng hộ không chứng minh rõ cho sự hữu ích/hiệu quả
Loại III Thủ thuật/xét nghiệm không hữu ích hoặc điều trị không cho thấy lợi ích
Thủ thuật/xét nghiệm quá tốn kém mà không có lợi ích hoặc nguy hại, hoặc điều trị nguy hiểm cho bệnh nhân
Mức chứng cứ
A Có đủ chứng cứ từ nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên
B Chứng cứ hạn chế từ một thử nghiệm ngẫu nhiên duy nhất hoặc từ các nghiên cứu không ngẫu nhiên hóa
C Dựa trên ý kiến chuyên gia, nghiên cứu hàng loạt ca hoặc qui trình điều trị chuẩn

Bệnh collagen-mạch máu tự miễn toàn thân (ví dụ lupus hoặc viêm khớp dạng thấp)
Tiền sử tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ, hoặc cao huyết áp do thai ngén
Trong bản cập nhật năm 2007, một thuật đồ mới để phân loại nguy cơ trên phụ nữ đã được đề xuất, chia phụ nữ làm 3 loại: “nguy cơ cao” khi có bằng chứng bệnh tim mạch, tiểu đường, suy thận mạn giai đoạn cuối, hoặc nguy cơ 10 năm dự kiến của bệnh mạch vành >20%; “có nguy cơ” khi có ≥ 1 yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch, hội chứng chuyển hóa, bằng chứng bệnh mạch máu dưới ngưỡng lâm sàng (ví dụ calci-hóa động mạch vành), hoặc kém dung nạp gắng sức khi dùng nghiệm pháp thảm lăn, “nguy cơ tối ưu” khi chỉ số nguy cơ Framingham <10%, không có các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch quan trọng, và có một lối sống lành mạnh. Cách phân loại nguy cơ này vẫn được áp dụng trong bản cập nhật 2011 với một vài thay đổi (Bảng 1). Trước tiên, AHA gần đây đã đưa ra một khái niệm mới là “sức khỏe tim mạch lý tưởng”, được định nghĩa là không có bệnh tim mạch lâm sàng và có tất cả các mức lý tưởng của cholesterol toàn phần (<200 mg/dL), huyết áp (<120/80 mmHg), và đường huyết lúc đói (<100 mg/dL), đồng thời có các hành vi lành mạnh bao gồm chỉ số thân khối (BMI) nạc (<25 kg/m2), không hút thuốc, tham gia các hoạt động thể lực ở mức được khuyến nghị, và có chế độ ăn tránh cao huyết áp (Lloyd-Jones DM, và cs, 2010).
Những thay đổi khác trong thuật đồ phân loại nguy cơ là sự thừa nhận tính khả dụng của một số phương trình ước lượng nguy cơ để tiên đoán nguy cơ toàn cục của bệnh tim mạch trong 10 năm, như chỉ số nguy cơ bệnh tim mạch Framingham cập nhật và điểm số nguy cơ Reynolds đối với phụ nữ (D’Agostino và cs, 2008; Ridker PM và cs, 2007). Trong bối cảnh đó, bản cập nhật này khuyên dùng một điểm cắt mới để xác định nguy cơ cao đối với tất cả các bệnh tim mạch, chứ không riêng gì bệnh mạch vành, khi nguy cơ 10 năm ≥10%.Hướng dẫn dự phòng bệnh tim mạch ở phụ nữ

Có ba chiến lược chính để dự phòng bệnh tim mạch trên phụ nữ: thay đổi lối sống, can thiệp vào các yếu tố nguy cơ quan trọng, và dự phòng bằng thuốc. Dưới đây sẽ trình bày tóm tắt các biện pháp dự phòng này.

1. Can thiệp lối sống

Hút thuốc

Nên khuyên phụ nữ đừng hút thuốc và tránh môi trường có khói thuốc. Nên tham vấn mỗi khi có cơ hội, dùng chất thay thế nicotin và các điều trị khác bằng thuốc, kết hợp với một chương trình thay đổi hành vi hoặc bỏ thuốc lá. (Loại I; mức chứng cứ B).

Hoạt động thể lực

Nên hoạt động thể lực (cộng dồn) ít nhất 150 phút/tuần ở mức vừa phải, 75 phút/tuần ở mức vận động nặng, hoặc tập thể dục với mức vận động tương đương. Thời gian tập thể dục mỗi lần ít nhất là 10 phút và tập rải đều trong cả tuần. (Loại I; mức chứng cứ B).
Để tăng thêm lợi ích tim mạch, có thể tăng thời gian tập thể dục ở mức vận động vừa phải lên 5 giờ (300 phút)/tuần, 2,5 giờ/tuần nếu hoạt động thể lực nặng (Loại I; mức chứng cứ B).
Nên tham gia các hoạt động làm tăng sức cơ ở tất cả các nhóm cơ chính, với thời lượng ≥2 ngày/tuần (Loại I; mức chứng cứ B).
Phụ nữ muốn giảm cân hoặc duy trì mức giảm cân nên hoạt động thể lực (cộng dồn) ít nhất là 60 đến 90 phút ở mức vận động vừa phải (ví dụ đi bộ rảo bước) vào phần lớn các ngày trong tuần hoặc tốt nhất là cả 7 ngày trong tuần (Loại I; mức chứng cứ B).

Phục hồi chức năng tim

Một chế độ toàn diện giảm nguy cơ bệnh tim mạch như phục hồi chức năng tim mạch hoặc đột quỵ hay một chương trình tập luyện thể lực được bác sĩ hướng dẫn hoặc dựa vào cộng đồng cần được khuyến nghị cho những phụ nữ gần đây có một hội chứng mạch vành cấp hoặc tái thông mạch vành, đau thắt ngực mới khởi phát hoặc mạn tính, mới bị tai biến mạch máu não, có bệnh động mạch ngoại biên (Loại I; mức chứng cứ A) hoặc đã/đang có triệu chứng suy tim và phân suất tống máu thất trái ≤35% (Loại I; mức chứng cứ B).

Chế độ ăn

Nên ăn nhiều rau quả; chọn hạt ngũ cốc còn nguyên vỏ lụa, thức ăn nhiều chất xơ; nên ăn cá, đặc biệt là cá béo (oily fish), ít nhất 2 lần/tuần; hạn chế chất béo bão hòa, cholesterol, rượu, natri, và đường; tránh các acid béo trans. (Loại I; mức chứng cứ B).
Riêng phụ nữ có thai nên tránh ăn cá có tiềm năng nhiễm một lượng thủy ngân cao (ví dụ cá nhám, cá lưỡi kiếm, cá thu).

Giảm cân/giữ cân

Nên giữ cân hoặc giảm cân bằng cách cân đối giữa hoạt động thể lực và thu nạp calori, hoặc tham gia các chương trình tập luyện khi có chỉ định để đạt được một cân nặng thích hợp (ví dụ BMI <25 kg/m2 đối với phụ nữ Mỹ), vòng eo (<88 cm), hoặc các số đo giới hạn của béo phì (Loại I; mức chứng cứ B).

Acid béo omega-3

Đối với phụ nữ tăng cholesterol-máu và/hoặc tăng triglycerid-máu, có thể xem xét cho dùng acid béo omega-3 dưới dạng cá hoặc dạng viên nang (ví dụ acid eicosapentaenoic [EPA] 1800 mg/ngày) để dự phòng cấp một và cấp hai (Loại IIb; mức chứng cứ B).
Ghi chú: Các thực phẩm bổ sung dầu cá có lượng EPA và DHA biến thiên khá lớn.

2. Can thiệp vào các yếu tố nguy cơ quan trọng

Huyết áp: mức tối ưu và lối sống

Nên khuyến khích phụ nữ đạt mức huyết áp tối ưu <120/80 mmHg thông qua các biện pháp lối sống như kiểm soát cân nặng, tăng hoạt động thể lực, uống rượu vừa phải, và ăn nhiều rau quả và các sản phẩm ít chất béo (Loại I; mức chứng cứ B).

Huyết áp: điều trị thuốc

Điều trị thuốc được chỉ định khi huyết áp ≥140/90 mmHg (≥130/80 mmHg khi có bệnh thận mạn tính và tiểu đường).
Thuốc lợi tiểu thiazid phải là một phần trong phác đồ điều trị đối với phần lớn bệnh nhân trừ khi có chống chỉ định hoặc nếu có chỉ định thuyết phục để dùng thuốc khác trong những bệnh mạch máu cụ thể. Điều trị ban đầu đối với phụ nữ có nguy cơ cao hội chứng mạch vành cấp hoặc nhồi máu cơ tim nên dùng thuốc chẹn b và/hoặc thuốc ức chế men chuyển/thuốc chẹn thụ thể angiotensin, cộng thêm các thuốc khác như thiazid khi cần, để đạt huyết áp đích (Loại I; mức chứng cứ A).
Ghi chú: thuốc ức chế men chuyển bị chống chỉ định trên phụ nữ có thai và nên thận trọng khi dùng trên phụ nữ có thể sắp mang thai.

Nồng độ lipid và lipoprotein: mức tối ưu và lối sống

Nên khuyến khích phụ nữ đạt nồng độ lipid và lipoprotein sau đây thông qua các biện pháp lối sống: LDL-C <100 mg/dL, HDL-C >50 mg/dL, triglycerid <150 mg/dL, và non–HDL-C (cholesterol toàn phần trừ cho HDL) <130 mg/dL (Loại I; mức chứng cứ B).

Lipid: điều trị thuốc để hạ thấp LDL-C trên phụ nữ nguy cơ cao

Liệu pháp thuốc hạ LDL-C được khuyên dùng đồng thời với các biện pháp thay đổi lối sống trên phụ nữ có bệnh mạch vành để đạt nồng độ LDL-C <100 mg/dL (Loại I; mức chứng cứ A) và cũng được chỉ định trên phụ nữ có bệnh tim mạch khác do xơ vữa mạch máu hoặc có bệnh tiểu đường hoặc có nguy cơ tuyệt đối 10 năm >20% (Loại I; mức chứng cứ B).
Mức giảm còn <70 mg/dL là hợp lý đối với phụ nữ có nguy cơ rất cao (ví dụ người mới có hội chứng mạch vành cấp hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch không được kiểm soát tốt) có bệnh mạch vành và cần dùng phối hợp thuốc hạ LDL (Loại IIa; mức chứng cứ B).

Lipid: điều trị thuốc để hạ thấp LDL-C trên những phụ nữ có nguy cơ khác

Hạ thấp LDL-C bằng liệu pháp thay đổi lối sống tỏ ra hữu ích nếu nồng độ LDL-C ≥130 mg/dL, có nhiều yếu tố nguy cơ, và nguy cơ tuyệt đối 10 năm của bệnh mạch vành từ 10% đến 20% (Loại I; mức chứng cứ B).
Liệu pháp nói trên cũng hữu ích nếu nồng độ LDL-C ≥160 mg/dL và có nhiều yếu tố nguy cơ, nếu nguy cơ tuyệt đối 10 năm của bệnh mạch vành <10% (Loại I; mức chứng cứ B).
Hạ thấp LDL-C bằng liệu pháp thay đổi lối sống cũng hữu ích nếu LDL = 190 mg/dL bất kể có hay không có các yếu tố nguy cơ khác hoặc bệnh tim mạch (Loại I; mức chứng cứ B).
Trên phụ nữ >60 tuổi có nguy cơ ước lượng của bệnh mạch vành >10%, có thể xem xét dùng statin nếu hsCRP >2 mg/dL sau khi thay đổi lối sống và không có quá trình viêm cấp tính (Loại IIb; mức chứng cứ B).

Lipid: điều trị thuốc đối với HDL-C thấp hoặc non–HDL-C cao

Có thể dùng niacin hoặc fibrat khi HDL-C thấp (<50 mg/dL) hoặc non–HDL-C cao (>130 mg/dL) ở phụ nữ có nguy cơ cao sau khi đạt được đích LDL-C (Loại IIb; mức chứng cứ B).

Tiểu đường

Liệu pháp lối sống và điều trị thuốc có thể hữu ích trên phụ nữ tiểu đường nhằm đạt được HbA1C <7% nếu có thể thực hiện được mà không làm hạ đường huyết có ý nghĩa (Loại IIa; mức chứng cứ B).

3. Can thiệp dự phòng bằng thuốc

Aspirin: phụ nữ nguy cơ cao

Nên dùng aspirin (75–325 mg/ngày) trên phụ nữ có bệnh mạch vành trừ khi bị chống chỉ định (Loại I; mức chứng cứ A).
Liệu pháp aspirin (75–325 mg/d) tỏ ra hợp lý trên phụ nữ tiểu đường trừ khi bị chống chỉ định (Loại IIa; mức chứng cứ B).
Nếu một phụ nữ nguy cơ cao có chỉ định điều trị nhưng không dung nạp aspirin, có thể thay bằng clopidogrel (Loại I; mức chứng cứ B).

Aspirin: phụ nữ khỏe mạnh hoặc có mức nguy cơ khác

Aspirin có thể hữu ích trên phụ nữ ≥65 tuổi (81 mg/ngày hoặc 100 mg cách nhật) nếu huyết áp được kiểm soát và lợi ích đối với việc đề phòng đột quỵ và nhồi máu cơ tim có nhiều khả năng vượt trội hơn nguy cơ xuất huyết tiêu hóa và xuất huyết não (Loại IIa; mức chứng cứ B) và có thể hợp lý đối với phụ nữ <65 tuổi để đề phòng nhũn não (Loại IIb; mức chứng cứ B).

Aspirin: rung nhĩ

Nên dùng aspirin 75–325 mg/ngày trên phụ nữ có rung nhĩ đột phát hoặc mạn tính bị chống chỉ định dùng warfarin hoặc có nguy cơ thấp đột quỵ (<1%/năm hay điểm số CHADS2 <2) (Loại I; mức chứng cứ A).

Warfarin: rung nhĩ

Đối với phụ nữ có rung nhĩ đột phát hoặc mạn tính, nên dùng warfarin để duy trì INR từ 2,0 đến 3,0 trừ khi họ được xem là có nguy cơ thấp đột quỵ (<1%/năm hoặc nguy cơ cao xuất huyết) (Loại I; mức chứng cứ A).

Dabigatran: rung nhĩ

Dabigatran là thuốc thay thế hữu ích cho warfarin để dự phòng đột quỵ và thuyên tắc huyết khối trên bệnh nhân có rung nhĩ đột phát hoặc thường xuyên và có các yếu tố nguy cơ của đột quỵ hoặc thuyên tắc nhưng không có van tim nhân tạo hoặc bệnh van tim có ý nghĩa về mặt huyết động, suy thận nặng (thanh thải creatinin 15 mL/phút), hoặc có bệnh gan tiến xa (suy chức năng đông máu) (Loại I; mức chứng cứ B).

Thuốc chẹn b

Nên dùng thuốc chẹn b lên đến 12 tháng (Loại I; mức chứng cứ A) hoặc đến 3 năm (Loại I; mức chứng cứ B) trên tất cả phụ nữ sau nhồi máu cơ tim hoặc hội chứng mạch vành cấp với chức năng thất trái bình thường trừ khi có chống chỉ định.
Nên điều trị thuốc chẹn b dài hạn hoặc vĩnh viễn đối với phụ nữ suy thất trái trừ khi có chống chỉ định (Loại I; mức chứng cứ A).
Có thể xem xét điều trị thuốc chẹn b dài hạn trên những phụ nữ khác có bệnh mạch vành hoặc bệnh mạch máu và chức năng thất trái bình thường (Loại IIb; mức chứng cứ C).

Thuốc ức chế men chuyển/chẹn thụ thể angio-tensin

Nên dùng thuốc ức chế men chuyển (trừ khi có chống chỉ định) trên phụ nữ sau nhồi máu cơ tim và trên người có bằng chứng lâm sàng của suy tim, phân suất tống máu thất trái ≤40%, hoặc tiểu đường (Loại I; mức chứng cứ A).
Trên phụ nữ sau nhồi máu cơ tim và trên người có bằng chứng lâm sàng của suy tim, phân suất tống máu thất trái ≤40% hoặc tiểu đường, không dung nạp thuốc ức chế men chuyển thì nên thay bằng thuốc chẹn thụ thể angiotensin (Loại I; mức chứng cứ B).
Ghi chú: thuốc ức chế men chuyển bị chống chỉ định trong thai kỳ và nên thận trọng khi dùng cho những phụ nữ có thể sắp mang thai.

Chẹn aldosterone

Sử dụng thuốc chẹn aldosterone (ví dụ spirololactone) sau nhồi máu cơ tim được chỉ định trên phụ nữ không bị hạ huyết áp có ý nghĩa, rối loạn chức năng thận, hoặc tăng kali-máu đang dùng liều điều trị của một thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn b và có phân suất tống máu thất trái ≤40% kèm suy tim có triệu chứng (Loại I; mức chứng cứ B).

BS Nguyễn Triển tóm dịch theo Lori Mosca và cs, Circulation. 2011;123

Download pdf

Phát triển tiêu chuẩn tỉ trọng mỡ cơ thể cho chẩn đoán béo phì ở người việt

Hồ Phạm Thục Lan* Đoàn Công Minh** Phạm Ngọc Khánh*** Phạm Ngọc Hoa**** Nguyễn Đình Nguyên*****, Nguyễn Văn Tuấn*****
*Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch; Khoa Khớp, Bệnh viện 115;
**Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
*** Khoa Khớp, Bệnh viện 115
****Bệnh viện ChợRẫy, Thành phốHồChí Minh, Việt Nam;
*****Đại học New South Wales và Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia

Tóm lược
Mục tiêu của công trình nghiên cứu này là khảo sát mối tương quan giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) và tỉ trọng mỡ cơ thể (percentage of body fat, hay PBF), và qua đó tìm một chuẩn mới của PBF để chẩn đoán béo phì cho người Việt. Chúng tôi đo PBF bằng máy DXA (Hologic QDR4500) và các chỉ số nhân trắc, kể cả BMI, trên 870 nữ và 357 nam tuổi từ 15 trở lên tại TP Hồ Chí Minh. Các đối tượng nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên trong cộng đồng theo qui trình chọn mẫu ngẫu nhiên. Tính chung, BMI ở nam giới là 22.7±3.0 kg/m2 (trung bình ± độ lệch chuẩn) và nữ giới là 22.3±3.5 kg/m2. Chỉ có 1,4% nam và 1,8% nữ có BMI≥30, trong khi đó 6,5% nam và 5,0% nữ có BMI≥27,5. Những nghiên cứu trước đây cho thấy BMI≥27,5 có liên quan đến gia tăng nguy cơ tử vong. PBF trung bình ở nam giới là 24,1±5,6%, thấp hơn nữ (34.7±5.2%). Hệ số tương quan giữa BMI và PBF là 0,51. Dựa vào mối tương quan giữa PBF và BMI, chúng tôi ước tính rằng PBF≥30 cho nam và PBF≥40 cho nữ tương đương với BMI≥27,5. Dựa vào tiêu chuẩn PBF≥30/40, kết quả nghiên cứu cho thấy có 17% nam và 18% nữ có thể xem là béo phì. Những kết quả này cho thấy chuẩn BMI≥30 hay BMI≥27,5 có thể dẫn đến sai sót trong chẩn đoán béo phì. Trong khi chưa có nghiên cứu ở người Việt về mối liên quan giữa BMI hay PBF và tử vong, chúng tôi đề nghị lấy ngưỡng PBF≥30 (nam) và PBF≥40 (nữ) để chẩn đoán béo phì ở người Việt.

Abstract
DETERMINATION OF BOFY FAT PERCENTAGE AS AN APPROACH FOR DIAGNOSIS OF OBESITY IN VIETNAMESE ADULTS
The present study sought to examine the relationship between body mass index (BMI) and percentage of body fat (PBF), and through which to derive new PBF thresholds for the diagnosis of obesity in Vietnamese men and women. We measured PBF by DXA (Hologic QDR4500) and obtained anthropometric indices from 870 women and 357 men aged 15 years or above. The individuals were selected from various districts within Ho Chi Minh City according to a simple random sampling scheme. Overall, BMI in men and women was 22.7±3.0 kg/m2 and 22.3 ±3.5 kg/m2 (mean ± standard deviation [SD]), respectively. Only 1.4% of men and 1.8% of women had BMI ≥30 kg/m2. Approximately 6.5% of men and 5.0% of women had BMI≥27.5, the level that was associated with an increased risk of mortality. Average PBF in men was 24.1±5.6%, approximately 10% lower than that in women (34.7±5.2%). The coefficient of correlation between BMI and PBF was 0.51. For a given BMI category, there was a large between-subject difference in PBF. Based on the relationship between PBF and BMI, we found that PBF≥30 in men and PBF≥40 in women were corresponding to BMI≥27.5. Using the new criteria of PBF≥30/40, 17% of men and 18% of women could be considered obese. These results clearly show that the threshold of BMI≥30 or BMI≥27.5 can lead to misdiagnosis of obesity in Vietnamese men and women. We propose to use the PBF≥30 (in men) and PBF≥40 (in women) for the diagnosis of obesity in the Vietnamese population.

Dẫn nhập
Béo phì được ghi nhận là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn ở các nước đã phát triển và ở châu Á,(1-3) vì bệnh gắn liền với sự tăng nguy cơ tử vong cũng như nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính nguy hiểm như đái tháo đường, tim mạch, ung thư.(4) Nhưng tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì vẫn chưa hoàn chỉnh. Hiện nay, béo phì được chẩn đoán dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI), hay có khi gọi là Quetelet index do nhà toán học Adolphe Quetelet phát triển vào thế kỷ 19. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bất cứ cá nhân trưởng thành nào có chỉ số BMI bằng hoặc cao hơn 30 kg/m2 được xem là “béo phì”.(5) Chuẩn này được áp dụng cho rất nhiều nơi trên thế giới, và được xem là một thước đo quan trọng để đánh giá qui mô béo phì trong một quần thể.
Chuẩn BMI ≥30 có thể không phù hợp cho người châu Á. Một số nghiên cứu mới nhất cho thấy ở người châu Á, nguy cơ tử vong gia tăng ngay cả khi BMI thấp hơn 30 kg/m2. Thật vậy, hai công trình nghiên cứu qui mô ở Trung Quốc(6) và Singapore(7) mà trong đó các nhà nghiên cứu theo dõi một quần thể lớn trong thời gian 10 năm, cho thấy ở nam và nữ dưới 65 tuổi, nguy cơ tử vong tăng cao khi BMI vượt quá ngưỡng 27 kg/m2. Ngưỡng này cũng phù hợp với khuyến cáo của một nhóm chuyên gia của WHO sau khi xem xét bằng chứng khoa học,(8) mà theo đó BMI ≥27,5 có thể xem là có nguy cơ cao (“higher high risk”).

Nhưng BMI là một chỉ số không hoàn hảo. BMI được phát triển để làm một thước đo gián tiếp phản ánh lượng mỡ trong cơ thể (vì vào thế kỷ 19 chưa có máy đo lượng mỡ trong cơ thể). BMI thực chất là tỉ số của trọng lượng trên bình phương chiều cao. Bởi vì trọng lượng bao gồm phần lớn hai thành tố là lượng nạc (lean mass) và lượng mỡ (fat mass), và trong khi lượng mỡ mới thật sự là yếu tố cần quan tâm trong thực hành lâm sàng, cho nên BMI không phản ảnh được tỉ trọng mỡ trong cơ thể. Chính vì khiếm khuyết này mà một số vận động viên có khi bị chẩn đoán là béo phì vì họ nặng cân dù rằng có ít lượng mỡ và nhiều lượng nạc.

Chỉ số “vàng” để chẩn đoán béo phì là tỉ trọng mỡ trong cơ thể (percentage of body fat, hay PBF). Thật vậy, béo phì được định nghĩa là lượng mỡ trong người tăng cao đến mức có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe. Do đó, tiêu chuẩn thích hợp nhất phải là lượng mỡ trong cơ thể so với trọng lượng.(9) Ngày nay, có nhiều phương pháp để ước tính lượng mỡ trong cơ thể và PBF. Phương pháp vàng hiện nay là công nghệ DXA (dual X-ray absorptio-metry). Một số nhà nghiên cứu cho rằng với cùng một ngưỡng BMI, PBF ở người châu Á cao hơn người châu Âu,(10, 11) và do đó, họ đề nghị tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì cho người Á châu là BMI ≥25 kg/m2. Tuy nhiên, chúng tôi không tìm thấy một cơ sở khoa học vững vàng nào cho đề nghị này. Ngược lại, chúng tôi đã chứng minh trong một nghiên cứu gần đây rằng, khi đo tỉ trọng mỡ bằng máy DXA, ở bất cứ ngưỡng BMI nào, tỉ trọng mỡ ở phụ nữ Việt Nam và Mỹ (da trắng) không khác nhau.(9) Ngoài ra, một số chuyên gia còn đề nghị lấy PBF ≥25% ở nam và PBF ≥35% ở nữ làm tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì. Một nhóm nhà nghiên cứu Singapore(10) báo cáo rằng tiêu chuẩn PBF trên là do Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo.(12) Có nhiều nghiên cứu khác(13-18) đã công bố trên các tập san y khoa quốc tế sử dụng tiêu chuẩn PBF 25/35 vừa đề cập trên. Tuy nhiên, khi kiểm tra tài liệu của WHO, chúng tôi không tìm thấy bất cứ một chỗ nào có đề cập đến hai tiêu chuẩn trên! Do đó, có thể nói rằng tiêu chuẩn PBF mà nhiều người đang đề cập thật ra là tiêu chuẩn ảo, không có thật trong thực tế.

Hiện nay, chúng ta biết được (i) mối liên quan giữa BMI và tử vong, cũng như ngưỡng BMI dẫn đến gia tăng nguy cơ tử vong ở người châu Á; và (ii) chúng ta cũng biết được BMI không phải là một chuẩn vàng để chẩn đoán béo phì vì BMI không phản ảnh tỉ trọng mỡ trong cơ thể. Tuy nhiên, chúng ta chưa biết được (a) mối liên quan giữa BMI và PBF (đo bằng máy DXA); và (b) cũng chưa biết được ngưỡng PBF để chẩn đoán béo phì cho người châu Á. Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ giải quyết hai khoảng trống tri thức trên, bằng cách phân tích mối tương quan giữa BMI và PBF, và qua đó xác định tiêu chuẩn PBF để chẩn đoán béo phì cho nam và nữ.
Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Đây là một công trình nghiên cứu một thời điểm (còn gọi là “nghiên cứu cắt ngang”), mà theo đó dữ liệu được thu thập hay đo lường tại một thời điểm duy nhất. Mô hình nghiên cứu này thích hợp với mục tiêu xác định giá trị tham chiếu và ước tính tỉ lệ hiện hành, cũng như phân tích tương quan giữa các yếu tố trong một quần thể. Tất cả đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục tiêu và qui trình nghiên cứu, ký tên ưng thuận. Công trình nghiên cứu được sự phê chuẩn của Hội đồng Nghiên cứu Khoa học của Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
Đối tượng nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ các quận trong Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi liên lạc với cộng đồng địa phương như nhà thờ để có danh sách đối tượng, và chọn ngẫu nhiên những nam và nữ khoẻ mạnh bình thường, tuổi từ 18 trở lên (không giới hạn tuổi tối đa), đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa vào danh sách cung cấp, chúng tôi sử dụng hàm “sample” trong phần mềm R để chọn ngẫu nhiên đối tượng phân chia theo độ tuổi. Chúng tôi nhờ lãnh đạo nhà thờ và các nhóm cộng đồng mời các đối tượng tham gia vào công trình nghiên cứu. Các đối tượng với các bệnh liên quan đến chuyển hóa xương, hay đang dùng các thuốc có ảnh hưởng đến chuyển hóa calci, hay đang dùng thuốc ngừa thai, hay mắc các bệnh ảnh hưởng đến hấp thu đường tiêu hóa không được tham gia vào nghiên cứu. Ngoài ra, các cá nhân có bệnh và nằm tại giường từ 2 tháng trở lên cũng không tham gia vào nghiên cứu.

Dữ liệu thu thập

Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu được một bác sĩ hay y sĩ trực tiếp phỏng vấn để thu thập các thông tin lâm sàng và đo lường các chỉ số nhân trắc. Một bộ câu hỏi (gồm trên 100 câu hỏi) được thiết kế để thu thập các dữ liệu liên quan đến các yếu tố nhân trắc, tiền sử lâm sàng, lối sống, vận động thể lực, thói quen ăn uống, tiền sử gãy xương, và tiền sử té ngã. Độ tuổi được tính từ ngày sinh đến ngày tham gia vào chương trình nghiên cứu. Chỉ số khối cơ thể được tính bằng cách lấy trọng lượng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m).
Mỗi đối tượng nghiên cứu còn cung cấp các thông tin về thói quen hút thuốc lá trong quá khứ và hiện tại. Tương tự, thói quen uống bia rượu cũng được thu thập qua hàm lượng và thời gian dùng bia rượu. Đối tượng còn được hỏi về thời gian phơi nắng mỗi ngày và những việc làm có tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Thời gian phơi nắng hay tiếp xúc với ánh nắng mặt trời được tính bằng số giờ cho mỗi tuần.

Phương pháp đo tỉ trọng mỡ

Tố chất cơ thể (lượng nạc và mỡ) được đo bằng máy Hologic QDR Apex 4500. Máy được chuẩn hóa bằng phanton 30 phút trước mỗi đợt đo. Vị trí đo là xương toàn thân. Chúng tôi tính tỉ trọng mỡ trong cơ thể bằng cách lấy trọng lượng mỡ chia cho trọng lượng cơ thể.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là (a) xác định mối tương quan giữa lượng mỡ hoặc PBF và BMI và ý nghĩa của việc chẩn đoán béo phì, và (b) xác định ngưỡng PBF sao cho tương đương với ngưỡng BMI có liên quan đến gia tăng nguy cơ tử vong.
Để đáp ứng mục tiêu thứ nhất, chúng tôi sử dụng mô hình hồi qui bội để tìm hiểu mối liên quan giữa PBF và BMI. Theo đó,

được chọn làm hàm số mô tả; trong đó, p = 1, 2, 3,…; a và bi là thông số cần ước tính; và e là “phần dư” của mô hình. Chúng tôi tìm p sao cho mô hình tối ưu, và mô hình tối ưu được đánh giá bằng chỉ số Akaike Information Criterion (AIC).
Với mục tiêu thứ hai, chúng tôi phân nhóm theo BMI, dựa vào đề nghị của WHO.(8) Theo đó, BMI được chia thành 4 nhóm như sau: nhóm thiếu cân nếu BMI <18,5; nhóm “bình thường” với BMI trong khoảng 18,5 và 22,9; nhóm “dư cân” với BMI trong khoảng 23 và 27,4; và nhóm có “nguy cơ cao” với BMI ≥27,5. Chú ý rằng WHO không dùng thuật ngữ “béo phì” (obesity) trong cách phân nhóm dựa vào BMI. Chúng tôi dựa vào kết quả phần (a) để tìm một ngưỡng PBF sao cho tương đương với BMI ≥27,5. Vì giá trị PBF khác biệt giữa nam và nữ, nên mô hình trên được áp dụng cho hai giới riêng biệt. Toàn bộ phân tích sẽ tiến hành bằng phần mềm R(19) với các lệnh trong thư viện Design.(20)

Kết quả
Công trình nghiên cứu bao gồm 870 nữ và 357 nam, tuổi từ 15 trở lên. Tuổi trung bình ở nam là 43,5 tuổi, thấp hơn nữ (48,6). Như có thể dự kién, tính bình quần nam có trọng lượng và chiều cao cao hơn nữ. BMI ở nam (22,7 kg/m2) cao hơn nữ (22,3 kg/m2) chỉ khoảng 0,4 đơn vị. Tuy nhiên, tỉ trọng mỡ ở nữ là ~35%, cao hơn 11% so với tỉ lệ ở nam (24%). Mặt khác, nam có lượng nạc cao hơn nữ (44 kg so với 32 kg (Bảng 1).

Phân bố BMI

Có sự khác biệt về mối tương quan giữa BMI và độ tuổi giữa nam và nữ. Ở nữ, BMI tăng theo độ tuổi với tốc độ cao hơn nam (Biểu đồ 1). Ở nữ độ tuổi 60-70, BMI trung bình là 23, tăng 3 kg/m2 so với độ tuổi 20. Ở nam, trong khoảng tuổi trên (70 và 20) BMI chỉ tăng 1,4 kg/m2. Tính chung, chỉ có 1,4% nam và 1,8% nữ có BMI ≥30 kg/m2. Biểu đồ 2 thể hiện sự phân bố BMI ở nam và nữ theo cách phân nhóm do WHO khuyến cáo. Theo cách phân nhóm này, có 6,5% nam (n = 23/354) và 5% nữ (n = 43/863) có BMI ≥27,5. Cần nói thêm rằng BMI ≥27,5 là ngưỡng gia tăng nguy cơ tử vong ở người châu Á.(6,7)

Bảng 1. Đặc điểm nhân trắc và tỉ trọng mỡ cơ thể của nam và nữ

Biến số Nam Nữ Trị số P
N 870 357
Độ tuổi (năm) 43,5 (18,6) 48,6 (16,5) <0,0001
Trọng lượng (kg) 62,1 (9,6) 52,4 (8,6) <0,0001
Chiều cao (cm) 165,1 (6,7) 153,3 (5,5) <0,0001
BMI (kg/m2) 22,7 (3,0) 22,3 (3,5) 0,041
Lượng mỡ (kg) 14,9 (5,1) 18,2 (4,9) <0,0001
Tỉ trọng mỡ (%) 24,1 (5,6) 34,7 (5,2) <0,0001
Lượng nạc (kg) 43,8 (5,8) 32,0 (4,0) <0,0001

Bảng 2. BMI và tỉ trọng mỡ cơ thể (PBF) theo nhóm tuổi và giới

Nhóm tuổi Nam Nữ
BMI PBF BMI PBF
15 – 19 22,9 (3,3) 24,9 (6,2) 20,0 (2,3) 30,1 (5,2)
20 – 29 21,7 (2,6) 22,2 (6,0) 20,1 (2,1) 31,6 (4,4)
30 – 39 22,7 (2,7) 22,2 (5,5) 21,7 (2,5) 32,8 (4,8)
40 – 49 23,9 (3,4) 24,1 (4,8) 22,7 (5,5) 34,5 (4,6)
50 – 59 23,3 (3,0) 24,9 (5,0) 23,0 (3,1) 35,6 (4,6)
60 – 69 21,4 (3,1) 24,2 (6,4) 23,2 (3,1) 37,4 (5,0)
70+ 23,1 (2,7) 27,9 (4,7) 23,0 (3,2) 36,5 (5,5)

Ghi chú: Số liệu là trung bình và độ lệch chuẩn (trong ngoặc).

Bảng 3. BMI và tỉ trọng mỡ cơ thể theo nhóm BMI và giới

Nhóm BMI Nam Nữ
BMI PBF BMI PBF
<18,5 17,4 (0,9) 16,8 (4,5) 17,3(1,03) 27,6 (4,1)
18,5 –2,9 21,31(1,2) 22,6 (5,3) 20,9 (1,3) 33,4 (4,2)
23,0 –7,4 24,8 (1,2) 26,6 (4,5) 24,7 (1,3) 37,8 (3,7)
27,5+ 28,9 (1,7) 29,4 (3,5) 29,5 (2,4) 41,7 (3,4)

Ghi chú: Số liệu là trung bình và độ lệch chuẩn (trong ngoặc).

Bảng 4. Mối tương quan giữa tỉ trọng mỡ cơ thể (PBF) và BMI: kết quả phân tích hồi qui bội

Yếu tố tiên lượng PBF Hệ số hồi qui (b) và sai số chuẩn Trị số P
Nam
Trị số chặn (intercept) -34,25 (9,20) <0,0001
Tuổi 0,05 (0,012) 0,0002
BMI 4,03 (0,800) <0,0001
BMI2 -0,065 (0,017) 0,0003
Nữ
Trị số chặn (intercept) -2,89 (1,51) 0,066
Tuổi 0,043 (0,008) <0,0001
BMI 2,07 (0,10) <0,0001
BMI2 -0,021 (0,001) <0,0001

Biểu đồ 1. Mối tương quan giữa BMI và độ tuổi ở nam (màu xanh) và nữ (màu đen). Biểu đồ hộp thể hiện độ phân bố của BMI và độ tuổi cho toàn bộ quần thể nghiên cứu.

 


Biểu đồ 2. Phân bố BMI ở nam (biểu đồ bên trái) và nữ (biểu đồ bên phải). Số trên mỗi phần là tỉ lệ phần trăm (cộng chung bằng 100).

Phân bố PBF

Mối tương quan giữa tỉ trọng mỡ cơ thể và độ tuổi cũng khác biệt giữa nam và nữ (Biểu đồ 3). Tính trung bình trong độ tuổi 20 đến 90, tỉ trọng mỡ tăng khoảng 0,06% mỗi năm tuổi ở nam, nhưng ở nữ, tỉ lệ này là 0,11%. Ở nam, tỉ trọng mỡ cơ thể trong độ tuổi 20-30 là 22% và ở độ tuổi 60+ vẫn dao động trong khoảng 22-23%. Tuy nhiên, ở nữ, tỉ trọng mỡ cơ thể ở độ tuổi 20-30 là ~32% và tăng lên 37% ở độ tuổi 60+ (Bảng 2).
Bảng 3 cho thấy trong mỗi nhóm BMI, PBF dao động giữa các cá nhân khá cao. Chẳng hạn như ngay cả ở nhóm BMI 18,5 – 23 (được xem là “bình thường”), tỉ trọng mỡ cơ thể ở nữ là 33,4% (với độ lệch chuẩn là 4,2%), và ở nam là 22,6 (độ lệch chuẩn 5,3).


Biểu đồ 3. Mối tương quan giữa tỉ trọng mỡ cơ thể (PBF) và độ tuổi ở nam (màu xanh) và nữ (màu đen)

Mối tương quan giữa BMI và PBF

Mối tương quan giữa BMI và tỉ trọng mỡ cơ thể PBF cho nam và nữ được thể hiện qua Biểu đồ 4. Như có thể dự kiến, ở bất cứ ngưỡng BMI nào, tỉ trọng mỡ ở nữ cũng cao hơn nam. Ở bất cứ ngưỡng BMI nào cũng có sự dao động lớn về PBF giữa các cá nhân. Mối liên quan giữa BMI và PBF có thể mô tả tốt nhất bằng hàm bậc hai. Hệ số tương quan giữa BMI và PBF ở nam là 0,59 và nữ là 0,61. Nói cách khác, BMI chỉ “giải thích” được khoảng 36% phương sai (độ dao động) của PBF giữa các cá nhân trong quần thể.
Khi phân tích hồi qui đa thức, chúng tôi ghi nhận được hai yếu tố tiên lượng PBF: độ tuổi và BMI (Bảng 4). Theo kết quả phân tích, tỉ trọng mỡ cơ thể tăng khoảng 0,05% mỗi năm (ở nam) và 0,04% / năm (ở nữ), sau khi điều chỉnh cho mối liên quan giữa PBF và BMI. Kết quả còn cho thấy mối tương quan giữa BMI và PBF biến chuyển theo BMI. Khi BMI trong khoảng 15 – 30, PBF tăng theo hàm tuyến tính, nhưng hệ số hồi qui của BMI bình phương (BMI2) cho thấy ở ngưỡng BMI cao (trên 30), PBF có xu hướng không tăng, mà có thể giảm.

Ngưỡng PBF để chẩn đoán béo phì

Để xác định ngưỡng BMI cho chẩn đoán béo phì, chúng tôi tìm hiểu về mối liên quan giữa BMI và tử vong. Có hai công trình nghiên cứu qui mô ở Trung Quốc(6) và Singapore(7) mà trong đó các nhà nghiên cứu theo dõi một quần thể lớn trong thời gian 10 năm. Kết quả của hai nghiên cứu khá nhất quán: ở nam và nữ dưới 65 tuổi, nguy cơ tử vong tăng cao khi BMI vượt qua ngưỡng 27 kg/m2, và ngưỡng này nhất quán với ngưỡng BMI ≥27,5 do WHO khuyến cáo.(8) Dựa vào kết quả phân tích trình bày trong Bảng 4, chúng tôi ước tính rằng BMI = 27,5 tương đương với PBF 30 ở nam và 40 ở nữ. Trong quần thể này, có 17,5% (n = 62) nam có PBF ≥30, và 17,7% (n = 153) nữ có PBF ≥40.


Biểu đồ 4: Mối tương quan giữa tỉ trọng mỡ cơ thể (trục tung) và BMI (trục hoành) cho nam (màu xanh) và nữ (màu đen). Biểu đồ hình hộp phản ánh độ phân phối của tỉ trọng mỡ cơ thể và BMI trong quần thể nghiên cứu


Biểu đồ 5. Tỉ lệ PBF > 30% (nam, màu xanh) và PBF > 40% (nữ, màu đen) theo nhóm BMI.

Biểu đồ 5 trình bày sự sai sót có thể mắc phải trong “chẩn đoán” béo phì nếu dựa vào BMI. Chẳng hạn như trong nhóm người có BMI ≥27,5, có 52% nam (12/23) có PBF ≥30 và 74% nữ (32/43) có PBF ≥40. Nói cách khác, nếu sử dụng BMI ≥27,5 là chuẩn để chẩn đoán béo phì, có đến 48% nam và 26% nữ bị chẩn đoán sai vì họ không béo phì. Ngược lại, trong nhóm BMI 23-27,4, có đến 26% nam PBF ≥30 và 33% nữ có PBF ≥40.

Bàn luận
Vấn đề béo phì đã và đang trở thành một gánh nặng y tế ở các nước đang phát triển như nước ta. Tuy nhiên, việc chẩn đoán béo phì ở người châu Á vẫn còn là một vấn đề nan giải. Tiêu chuẩn “vàng” để chẩn đoán béo phì là tỉ trọng mỡ cơ thể, vì chỉ số này đáng tin cậy nhất và có thể đo lường một cách chính xác bằng máy DXA. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, máy DXA vẫn chưa phổ biến, hay ngay cả phổ biến cũng chưa thể ứng dụng trong lâm sàng thường xuyên do vấn đề chi phí xét nghiệm. Do đó, BMI vẫn được xem là một chỉ số thực tế có thể sử dụng trong việc chẩn đoán béo phì. Nhưng BMI không phải là một chỉ số hoàn hảo, bởi vì như nghiên cứu này cho thấy BMI không phản ảnh được tỉ trọng mỡ trong cơ thể. Ngoài ra, BMI còn có thể sai vì đơn giản là bệnh nhân không nhớ chính xác được chiều cao và trọng lượng của mình. Do đó, việc dùng chỉ số BMI cho chẩn đoán béo phì đã bị rất nhiều phê bình.(18, 21-25)
Bất cứ một ngưỡng chẩn đoán nào cũng nên dựa vào kết cục lâm sàng (clinical outcome). Kết cục lâm sàng có ý nghĩa y tế nhất có lẽ là tử vong. Trong quá khứ nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa tử vong và BMI đã được thực hiện ở người Âu Mỹ, và kết quả cho thấy nguy cơ tử vong tăng nhanh khi BMI bằng hoặc cao hơn 30. Do đó, ngưỡng BMI ≥30 được lấy làm tiêu chuẩn chẩn đoán cho người Âu Mỹ, và WHO cũng đề nghị dùng tiêu chuẩn này trên toàn thế giới.
Cho đến khoảng 10 năm trước đây, chưa có những nghiên cứu qui mô về mối liên quan giữa BMI và tử vong ở người châu Á. Tuy nhiên, ở người Á châu, bệnh đái tháo đường và tim mạch thường hay thấy ở những người có chỉ số BMI thấp hơn 30, thậm chí thấp hơn 25.(16, 25) Xuất phát từ lý do này, các chuyên gia đề nghị tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì cho người Á châu phải thấp hơn người da trắng, và đã chọn BMI 25 kg/m2 làm ngưỡng chẩn đoán béo phì cho người Á châu.(8) Nếu dùng BMI ≥25 kg/m2, số người Việt béo phì là khoảng 27% nam và 22% nữ. Tuy nhiên, ngưỡng BMI ≥25 không dựa vào một bằng chứng khoa học nào đáng tin cậy.
Khoảng 15 năm qua tồn tại một giả định rằng nếu hai người châu Á và châu Âu (da trắng) có cùng BMI và cùng tuổi, thì người châu Á có nhiều lượng mỡ hơn(11,14,16,24,26) người châu Âu. Từ đó, một số chuyên gia đề nghị rằng ngưỡng chẩn đoán béo phì cho người châu Á là PBF ≥25 cho nam và PBF ≥35 cho nữ. Trong quần thể người Việt, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có đến 51% nam và nữ có thể xem là béo phì nếu dựa vào chuẩn PBF ≥25 cho nam và PBF ≥35 cho nữ! Rất khó có thể nói rằng tần suất 51% là thuyết phục. Nhưng có hai vấn đề ở đây. Thứ nhất, giả định về sự khác biệt tỉ trọng mỡ giữa người châu Âu và châu Á không đúng. Thật vậy, trong một nghiên cứu mới đây, chúng tôi chứng minh rằng tỉ trọng mỡ ở phụ nữ Việt Nam tương đương với tỉ lệ mỡ ở phụ nữ Mỹ gốc châu Âu,(9) hay nói cách khác là không có khác biệt về tỉ trọng mỡ giữa người châu Á và châu Âu. Vấn đề thứ hai là hoàn toàn không có một cơ sở khoa học nào cho chuẩn PBF ≥25 cho nam và PBF ≥35 cho nữ. Chúng tôi phát hiện rằng chuẩn này hoàn toàn không có trong tài liệu của WHO mà các nhà nghiên cứu Singapore phát biểu. Nói tóm lại, các kết quả trên cho thấy ngưỡng BMI 30 kg/m2 hay 25 kg/m2 dùng để chẩn đoán béo phì cho người châu Á cần được xem xét lại.
Gần đây, đã có một số nghiên cứu phân tích mối liên quan giữa BMI và tử vong ở người châu Á. Nghiên cứu ở Trung Quốc 6) và Singapore(7) theo dõi trên 150.000 nam và nữ trong 10 năm, và phát hiện rằng ngưỡng BMI ≥27 có liên quan đến gia tăng nguy cơ tử vong. Năm 2004, các chuyên gia WHO cũng đề nghị lấy ngưỡng BMI ≥27,5 làm ngưỡng xác định “nguy cơ cao”. Ở Việt Nam, một nghiên cứu trên 978 người tuổi từ 25-74 ở Hà Nội(27) cho thấy có khoảng 2,1% nam và 2,2% nữ có BMI ≥27. Nhưng một nghiên cứu khác ở TPHCM(28) báo cáo 6,4% có BMI ≥27. Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận 6,2% nam và 4,7% nữ có BMI ≥27,5. Trong nghiên cứu ở Trung Quốc,(6) có đến 12% đối tượng có BMI ≥27. Nghiên cứu ở Singapore cho thấy có 10,3% (5316 / 51251) có BMI ≥27,5.
Nhưng như đề cập trên, BMI chỉ là một chỉ số gián tiếp để chẩn đoán béo phì. Trong thời gian qua, việc dùng BMI để chẩn đoán béo phì đã gặp rất nhiều phê bình gay gắt.(18,21-25). Bởi vì trọng lượng bao gồm hai cấu phần chính là lượng mỡ (fat mass) và lượng nạc, và hai cấu phần này có thể khác biệt giữa các cá nhân, cho nên công thức BMI không phản ảnh chính xác tình trạng béo phì cho một cá nhân.(24) Như nghiên cứu này cho thấy hai người có thể có cùng BMI, nhưng tỉ lệ mỡ hoàn toàn khác nhau.
Tỉ trọng mỡ cơ thể PBF là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán béo phì, vì PBF trực tiếp đo lường lượng mỡ trong cơ thể. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đo lường PBF và theo dõi đối tượng một thời gian dài để biết được mối liên hệ giữa PBF và tử vong. Do đó, dù PBF được xem là tiêu chuẩn vàng, nhưng ngưỡng PBF để chẩn đoán béo phì vẫn chưa được xác định. Trong nghiên cứu này, qua tìm hiểu hàm số tương quan giữa BMI và PBF, chúng tôi có thể ước tính ngưỡng PBF ≥30 (nam) và PBF ≥40 (nũ) tương đương với BMI ≥27,5 (tức ngưỡng có nguy cơ tử vong cao). Và, dựa vào chuẩn mới này, chúng tôi ước tính rằng có khoảng 18% cư dân TP.HCM đang ở trong tình trạng béo phì, hiểu theo nghĩa có nguy cơ tử vong cao. Mặc dù tỉ lệ hiện hành này vẫn còn thấp so với các nước Âu Mỹ (nơi mà tỉ lệ béo phì hay BMI ≥30 dao động trong khoảng 25 đến 30%),(29) nhưng vẫn là một tỉ lệ khá cao.
Những dữ liệu của nghiên cứu này cần phải diễn giải trong khuôn khổ của một số ưu điểm và nhược điểm. Đây là một công trình nghiên cứu béo phì qui mô có đo tỉ trọng mỡ bằng máy DXA ở Việt Nam và một trong những nghiên cứu qui mô nhất trong vùng Á châu, bao gồm cả nam và nữ, đảm bảo đầy đủ số liệu cho việc phân tích xác định các thông số cần thiết cho việc xác định mối tương quan giữa BMI và tỉ trọng mỡ cơ thể. Các đối tượng nam và nữ được chọn một cách ngẫu nhiên trong cộng đồng qua những tiêu chuẩn lâm sàng, do đó kết quả mang tính hợp lý ngoại tại (external validity) cao. Một ưu điểm khác của nghiên cứu là sử dụng công nghệ DXA, một công nghệ chuẩn để đo thành phần cơ thể. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cũng có một số nhược điểm. Trước hết, đây là một nghiên cứu cắt ngang, cho nên không thể suy luận về mối liên hệ nhân quả giữa BMI và tỉ trọng mỡ. Vì không có dữ liệu về tử vong nên chúng tôi phải dựa vào dữ liệu nước ngoài (Trung Quốc và Singapore) những nơi có thể khác với Việt Nam về tỉ lệ tử vong. Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà dinh dưỡng và lối sống có thể khác biệt so với cư dân nông thôn, nên có thể xem những kết quả này chưa đại diện cho quần thể ở nông thôn, hay cho toàn quốc.
Tóm lại, những kết quả của nghiên cứu cho thấy chuẩn BMI≥30 hay BMI≥27,5 có thể dẫn đến sai sót trong chẩn đoán béo phì ở người Việt. Dựa vào mối liên hệ giữa BMI và tỉ trọng mỡ cơ thể PBF, giữa BMI và nguy cơ tử vong, chúng tôi xác định được ngưỡng tỉ trọng mỡ ≥30% cho nam và ≥40% cho nữ là ngưỡng có thể sử dụng cho chẩn đoán béo phì ở người Việt. Với ngưỡng mới này, chúng tôi ước tính rằng tỉ lệ béo phì trong cộng động cư dân TPHCM là khoảng 18%, một qui mô rất đáng quan tâm. Chúng tôi đề nghị nghiên cứu tiếp chuẩn mới này trong các quần thể độc lập để đi đến một chuẩn thống nhất cho toàn quốc.
Cảm tạ
Công trình nghiên cứu này được sự hỗ trợ một phần từ Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM, và chương trình hợp tác Viện – Trường trong khổ của Ủy hội Đại học Bỉ. Chúng tôi cám ơn Bs Trần Sơn Thạch (Bệnh viện Hùng Vương và Viện nghiên cứu y khoa Garvan) đã có một số góp ý góp phần cải tiến bản thảo của bài báo. Chúng tôi chân thành cám ơn Linh mục Phạm Bá Lãm, Linh mục Vũ Minh Danh, các ông Phạm Doãn Phong, Lương Thành Phát, Nguyễn Công Phú, và Tiền Ngọc Tuấn đã tích cực hỗ trợ cho chương trình nghiên cứu của chúng tôi, kể cả khuyến khích các giáo dân tham gia vào công trình nghiên cứu. Chúng tôi cũng chân thành ghi nhận sự giúp đỡ quý báu của Bs Lê Thị Ngọc Linh thuộc Bệnh viện Nhân dân 115; và các sinh viên thuộc Trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch: Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Hải Đăng, Võ Thị Thúy An, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Nguyễn Trịnh Bảo An, Mai Duy Linh, Nguyễn Vũ Đạt, Diêm Đăng Khoa, và Trần Hồng Bảo đã hết lòng giúp đỡ trong việc hướng dẫn và phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo
1.Yoon KH, Lee JH, Kim JW, Cho JH, Choi YH, Ko SH, Zimmet P, Son HY (2006) Epidemic obesity and type 2 diabetes in Asia. Lancet 368:1681-1688.
2.Ogden CL, Carroll MD, Curtin LR, McDowell MA, Tabak CJ, Flegal KM (2006) Prevalence of overweight and obesity in the United States, 1999-2004. Jama 295:1549-1555.
3.Cameron AJ, Welborn TA, Zimmet PZ, Dunstan DW, Owen N, Salmon J, Dalton M, Jolley D, Shaw JE (2003) Overweight and obesity in Australia: the 1999-2000 Australian Diabetes, Obesity and Lifestyle Study (AusDiab). Med J Aust 178:427-432.
4.Whitlock G, Lewington S, Sherliker P, Clarke R, Emberson J, Halsey J, Qizilbash N, Collins R, Peto R (2009) Body-mass index and cause-specific mortality in 900,000 adults: collaborative analyses of 57 prospective studies. Lancet 373:1083-1096.
5.WHO (2000) Obesity: preventing and managing the global epidemic. Report of a WHO consultation. WHO Technical Report Series 894:1-253.
6.Gu D, He J, Duan X, Reynolds K, Wu X, Chen J, Huang G, Chen CS, Whelton PK (2006) Body weight and mortality among men and women in China. Jama 295:776-783.
7.Odegaard AO, Pereira MA, Koh WP, Gross MD, Duval S, Yu MC, Yuan JM BMI, all-cause and cause-specific mortality in Chinese Singaporean men and women: the Singapore Chinese health study. PLoS One 5:e14000.
8.WHO (2004) Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies. Lancet 363:157-163.
9. Ho-Pham LT, Lai TQ, Nguyen ND, Barrett-Connor E, Nguyen TV Similarity in percent body fat between white and Vietnamese women: implication for a universal definition of obesity. Obesity (Silver Spring) 18:1242-1246.

10. Deurenberg P, Yap M, van Staveren WA (1998) Body mass index and percent body fat: a meta analysis among different ethnic groups. Int J Obes Relat Metab Disord 22:1164-1171.
11. Wang J, Thornton JC, Russell M, Burastero S, Heymsfield S, Pierson RN, Jr. (1994) Asians have lower body mass index (BMI) but higher percent body fat than do whites: comparisons of anthropometric measurements. Am J Clin Nutr 60:23-28.
12. WHO (1995) Physical status: the use and interpretation of anthropometry. Report of a WHO Expert Consultation. WHO Technical Report Series 854.
13. Ko GT, Tang J, Chan JC, Sung R, Wu MM, Wai HP, Chen R (2001) Lower BMI cut-off value to define obesity in Hong Kong Chinese: an analysis based on body fat assessment by bioelectrical impedance. Br J Nutr 85:239-242.
14. Chang CJ, Wu CH, Chang CS, Yao WJ, Yang YC, Wu JS, Lu FH (2003) Low body mass index but high percent body fat in Taiwanese subjects: implications of obesity cutoffs. Int J Obes Relat Metab Disord 27:253-259.
15. Deurenberg P (2001) Universal cut-off BMI points for obesity are not appropriate. Br J Nutr 85:135-136.
16. Deurenberg-Yap M, Chew SK, Deurenberg P (2002) Elevated body fat percentage and cardiovascular risks at low body mass index levels among Singaporean Chinese, Malays and Indians. Obes Rev 3:209-215.
17. He M, Tan KC, Li ET, Kung AW (2001) Body fat determination by dual energy X-ray absorptiometry and its relation to body mass index and waist circumference in Hong Kong Chinese. Int J Obes Relat Metab Disord 25:748-752.
18. Romero-Corral A, Somers VK, Sierra-Johnson J, Thomas RJ, Collazo-Clavell ML, Korinek J, Allison TG, Batsis JA, Sert-Kuniyoshi FH, Lopez-Jimenez F (2008) Accuracy of body mass index in diagnosing obesity in the adult general population. Int J Obes (Lond) 32:959-966.
19. Nguyen TV (2006) Phân tích sốliệu và tạo biểu đồbằng R. Nhà xuất bản Khoa học Kỹthuật TPHCM.
20. R, Development, Core, Team (2008) R: A Language and Environment for Statistical Computing. URL:http://wwwR-projectorg Vienna, Austria: .
21. Bozkirli E, Ertorer ME, Bakiner O, Tutuncu NB, Demirag NG (2007) The validity of the World Health Organisation’s obesity body mass index criteria in a Turkish population: a hospital-based study. Asia Pac J Clin Nutr 16:443-447.
22. De Lorenzo A, Deurenberg P, Pietrantuono M, Di Daniele N, Cervelli V, Andreoli A (2003) How fat is obese? Acta Diabetol 40 Suppl 1:S254-257.
23. Goh VH, Tain CF, Tong TY, Mok HP, Wong MT (2004) Are BMI and other anthropometric measures appropriate as indices for obesity? A study in an Asian population. J Lipid Res 45:1892-1898.
24. Yajnik CS, Yudkin JS (2004) The Y-Y paradox. Lancet 363:163.
25. Zhou BF (2002) Predictive values of body mass index and waist circumference for risk factors of certain related diseases in Chinese adults–study on optimal cut-off points of body mass index and waist circumference in Chinese adults. Biomed Environ Sci 15:83-96.
26. Lee K, Lee S, Kim SY, Kim SJ, Kim YJ (2007) Percent body fat cutoff values for classifying overweight and obesity recommended by the International Obesity Task Force (IOTF) in Korean children. Asia Pac J Clin Nutr 16:649-655.
27. Walls HL, Peeters A, Son PT, Quang NN, Hoai NT, Loi do D, Viet NL, Khai PG, Reid CM (2009) Prevalence of underweight, overweight and obesity in urban Hanoi, Vietnam. Asia Pac J Clin Nutr 18:234-239.
28. Cuong TQ, Dibley MJ, Bowe S, Hanh TT, Loan TT (2007) Obesity in adults: an emerging problem in urban areas of Ho Chi Minh City, Vietnam. Eur J Clin Nutr 61:673-681.
29. Baskin ML, Ard J, Franklin F, Allison DB (2005) Prevalence of obesity in the United States. Obes Rev 6:5-7.

Download pdf

 Thiếu vitamin D 

Một phụ nữ 61 tuổi lo lắng nồng độ vitamin D thấp được phát hiện trong lúc đánh giá tình trạng xương của bà ta. Bà mãn kinh lúc 54 tuổi, không có bệnh sử té ngã, không có tiền sử gia đình gãy xương háng, không dùng thuốc hay chất bổ sung. Chiều cao 157,5 cm và cân nặng 59,1 kg. Khám thực thể không có gì đặc biệt, xét nghiệm cận lâm sàng bình thường. Chỉ số T đo mật độ chất khoáng của xương hông là -1,5, và nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh là 21 ng/ml (53 nmol/lít). Bạn khuyên gì?.

VẤN ĐỀ LÂM SÀNG
Thiếu vitamin D rõ rệt (nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh thấp hơn 10 ng/ml (25 nmol/lít) xác định tình trạng yếu cơ, đau xương và gãy xương do giòn xương, thiếu vitamin D khi nồng độ 25-hydroxyvitamin D từ 10 đến 30 ng/ml (25 đến 75 nmol/lit), không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng, gần đây là nỗi lo lắng cho cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân (BN). Sư quan tâm ngày càng tăng đối với “hội chứng” mới này và những biến chứng tiềm năng dẫn đến gia tăng việc xét nghiệm chất chuyển hóa 25-hydroxyvitamin D, một số đo lâm sàng tốt nhất của dự trữ sinh tố D. Số xét nghiệm 25-hydroxyvitamin D do một phòng thí nghiệm tham chiếu lớn cho thấy đã tăng 50% trong quí tư năm 2009 so với cùng quí năm 2008 và dự kiến có thể tăng lên hàng  triệu xét nghiệm trong năm nay.
Ý nghĩa của nồng độ vitamin D thấp hơn chuẩn mực bình thường nhưng không giảm đáng kể và giá trị của việc bổ sung chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Vitamin D quan trọng cho sự khoáng hóa xương và nhiều nghiên cứu quan sát đã thấy sự liên quan giữa nồng độ thấp 25-hydroxyvitamin D với gãy xương. Do đó, không có gì lạ khi phần lớn những nghiên cứu quan sát và nghiên cứu ngẫu nhiên, đối chứng giả dược về thiếu vitamin D đều tập trung vào những kết cục sức khỏe của xương. Trong nhiều năm qua, sự chú ý quay sang những ảnh hưởng ngoài xương của thiếu vitamin D, đặc biệt là sự liên quan với bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, và rối loạn miễn dịch. Bài này tóm tắt những hiểu biết hiện tại và những điều chưa khẳng định về thiếu vitamin D và tác dụng bổ sung vitamin D trên kết cục sức khỏe.

CHIẾN LƯỢC VÀ CHỨNG CỚ

ĐỊnh nghĩa thiếu vitamin D

Xếp nồng độ 25-hydroxyvitamin D trong huyết thanh vào  mức “thiếu” (tức là 10 đến 30 ng/ml) là một việc đầy thách thức vì nhiều lý do. Thứ nhất, phần lớn các phòng thí nghiệm tham chiếu đã nâng giới hạn dưới của trị số bình thường lên 30 ng/ml. Thứ hai, mặc dù có nhiều cách đo hydroxyvitamin D (xét nghiệm miễn dịch phóng xạ, xét nghiệm liên kết enzym và sắc ký lỏng với phổ trắc khối), độ đúng và độ chính xác của xét nghiệm, đặc biệt ở những phóng thí nghiệm không tham chiếu, vẫn còn có vấn đề. Thứ ba, nồng độ 25-hydroxyvitamin D thay đổi theo mùa, sự tiếp xúc với ánh nắng, và chế độ ăn. Ví dụ ở các vĩ độ bắc, nồng độ giảm 20% từ cuối hè đến giữa mùa đông, trái lại 30 phút để toàn thân tiếp xúc với ánh nắng trong mùa hè tạo nhanh vitamin D. Tiếp xúc đều đặn với ánh sáng mặt trời (tùy theo cường độ của ánh sáng) có thể gia tăng nhanh chóng nồng độ 25 hydroxyvitamin D.
Điều gì tạo nên nồng độ huyết thanh 25-hydroxyvitamin D? Vitamin D được tạo ra từ sự chuyển đổi không do enzym của provitamin D thành previtamin D (tiền vitamin D) trong da khi tiếp xúc ánh sáng mặt trời phát bức xạ cực tím trong dải bước sóng hẹp từ 290 đến 315 nm (Hình 1). Vitamin D cũng có trong thức ăn (từ 100 đến 200 đơn vị/ngày). Ở gan, vitamin D được biến đồi thành 25-hydroxyvitamin D, dang tan trong nước một phần với thời gian bán hủy ngắn hơn vitamin D, gắn vào protein chuyên chở vitamin D. Khoảng 40 đến 50% 25-hydroxyvitamin D trong máu là do sự biến đổi ở da. Dạng có hoạt tính của vitamin D là 1,25-dihydroxyvitamin D, được tạo ra chủ yếu từ thận, tuần hoàn trong máu với nồng độ thấp hơn 25 hydroxyvitamin D nhưng có ái lực với thụ thể vitamin D lớn hơn và có hoạt lực sinh học mạnh hơn. Nồng độ thấp của 1,25-dihydroxyvitamin D không phản ảnh nồng độ thấp của 25-hydroxy-vitamin D mà là do những nguyên nhân khác,  thường gặp nhất là suy thận hay ít gặp hơn là nhuyễn xương do ung thư.
Nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh là chỉ điểm tốt nhất của tình trạng tổng quát của vitamin D bởi vì số đo này phản ảnh tổng vitamin D từ nguồn thức ăn, tiếp xúc ánh sáng mặt trời, cũng như sự biến đổi vitamin D từ dự trữ mỡ trong gan. Theo Điều tra Đánh Giá Sức khỏe và Dinh dưỡng  Quốc Gia Hoa Kỳ (NHANES), lượng vitamin D ăn vào trung bình (bao gồm chất bổ sung) có thể thấp đến 200 đơn vị/ngày (với những khác biệt theo tuổi). Sự tổng hợp vitamin D từ da khá khác nhau, phụ thuộc vào sắc tố, vĩ độ, mùa tiết, áo quần, tuổi, việc sử dụng kem chống nắng và tình trạng thời tiết địa phương. Nồng độ 25-hydroxyvitamin D ở người da đen thấp hơn người da trắng do sắc tố cao ở da đen. Ở người da trắng, nồng độ của 25 hydroxy-vitamin D có thể thay đổi tùy theo các yếu tố môi trường, hormon, di truyền, và dinh dưỡng. Chỉ số thân khối (BMI) tỷ lệ nghịch với nồng độ 25-hydroxyvitamin D và BN mập thường có nồng độ từ 10 đến 20 ng/ml (25 đến 50 nmol/lít); khác biệt này một phần do ít luyện tập thể lực, ít tiếp xúc ánh sáng ngoài trời của người mập hơn là người chắc thịt. Nhiều tình trạng gây nồng độ 25-hydroxy-vitamin D huyết thanh thấp (tức dưới 10 ng/ml), như chế độ ăn ít vitamin D đi đôi với ít tiếp xúc ánh sáng mặt trời, hấp thu kém do bệnh đường ruột viêm nhiễm, bệnh sprue (ruột dị ứng với gluten), phẫu thuật dạ dày, bệnh đường mật, hay vi khuẩn đường ruột tăng trưởng quá mức; dùng các thuốc chống động kinh (như phenobarbital hay phenytoin); và dùng glucocorticoid lâu dài.
Định nghĩa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh thấp hay thiếu tùy thuộc vào nồng độ được định nghĩa bình thường. Trước kia, theo Tổ chức Y tế Thế giới, nồng độ thấp hơn 10 ng/ml xem như thiếu và nồng độ thấp hơn 20 ng/ml xem như suy giảm. Tuy nhiên, với những thay đổi gần đây trong giới hạn tham chiếu cận lâm sàng, bây giờ một nồng độ bình thường thường được định nghĩa là nồng độ huyết thanh từ 30 đến 76 ng/ml (75 đến 190 nanomol/lít). Khi giới hạn này được dùng, tỉ lệ lưu hành ước đoán của suy giảm vitamin D cao từ 50 đến 80% trong dân chúng. Theo NHANES trong năm 2005 và 2006, nồng độ 25-hydroxyvitamin D trung bình ở nhiều nhóm tuổi là 24 ng/ml (60 nmol/l), được xem là giảm theo một số tiêu chuẩn.
Có hai lý do để thiết lập giới hạn dưới của nồng độ của 25-hydroxyvitamin D bình thường là 30 ng/ml: thứ nhất, được nhấn mạnh trong những nghiên cứu được công bố trong mấy năm qua, gợi ý rằng nồng độ hormon cận giáp (PTH) tăng khi nồng độ 25-hydroxyvitamin D giảm dưới 30 ng/ml; thứ hai, những nghiên cứu trước đó gợi ý rằng hấp thu calci tối ưu khi nồng độ 25-hydroxyvitamin D là 30 ng/ml. Tuy nhiên hai lý do này bây giờ cũng bị đặt câu hỏi. Dữ liệu cho thấy mối tương quan giữa hormon cận giáp và 25-hydroxyvitamin D không thể biểu diễn bằng một đường cong, và có những biến thiên đáng kể của nồng độ hormon cận giáp khi nồng độ 25-hydroxyviatmin D ở trong khoảng từ 20 đến 30 ng/ml. Không có mức ngưỡng tuyệt đối của nồng độ 25-hydroxyvitamin huyết thanh mà ở đó hormon cận giáp bắt đầu tăng. Hơn nữa, mặc dù thông tin từ phân tích đồng vị kép (dual isotope) là phương pháp chính xác nhất để đo hấp thu calci. Có quá ít nghiên cứu chứng minh một ngưỡng tuyệt đối của  nồng độ 25-hydroxyvitamin D mà ở đó sự hấp thu calci không tăng. Thông thường, hấp thu calci đỉnh xảy ra ở nồng độ trong khoảng từ 20 đến 30 ng/ml.

Hình 1. Tổng hợp và chuyển hóa của vitamin D.
Vitamin D khởi đầu được tạo ra từ da do sự biến đổi không do enzym từ provitamin D3 sang tiền vitamin D3. Vitamin D ăn vào thường tương đối hạn chế vì có ít trong thực phẩm ngoại trừ vài loại cá chứa lượng lớn; nên thường phải dùng chất bổ sung. Vitamin D được dự trữ trong mô mỡ hoặc được biến đồi thành 25-hydroxyvitamin D3 (25[OH]D3) trong gan do enzym 25-hydroxylase, một dạng tuần hoàn trong máu ở nồng độ cao nhất và phản ảnh sự tiếp xúc ánh nắng hay thu nạp từ thức ăn. Nó được biến đổi thành một chất chuyển hóa có hoạt tính, 1,25 dihydroxyvitamin D (1,25 [OH]2D) hay calcitrol trong thận, mặc dù những mô khác cũng có 1α-hydroxylase hoạt động. Tổng hợp calcitrol gia tăng (+) khi nồng độ hormon cận giáp (PTH) tăng để đáp ứng với nồng độ calci thấp. Nồng độ phosphat huyết thanh thấp cũng làm tăng sản xuất calcitrol. Sự tổng hợp calcitrol bị ức chế (-) bởi sự sản sinh yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 23 ( FGF 23), vốn được tiết ra từ tế bào xương trong chất nền xương. Calcitrol ức chế hoạt động của 1α-hydroxylase (CYP27B1) và kích thích hoạt động của 24-hydroxylase (CYP24R1), một loại enzym thúc đẩy sản xuất 24,25(OH)2D3, một sản phẩm vitamin D không có hoạt tính sinh học. (Trong các từ CYP2R1, CYP27B1, và CYP24R1, CYP có nghĩa cytochrome P).

Vitamin D và sức khoẻ xương

Mặc dù gần đây sự chú ý tập trung vào tác dụng ngoài xương của vitamin D, nhưng vitamin D vẫn hết sức quan trọng cho sự khoáng hóa xương. Vì vậy, không ngạc nhiên gì khi nhiều nghiên cứu vitamin D đã đánh giá các kết cục trên sức khỏe xương.
Nhiều nghiên cứu quan sát sự kết hợp  giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D và sức khỏe xương cho kết quả trái ngược nhau. Một báo cáo từ Ottawa về 15 nghiên cứu (ba nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu và 12 nghiên cứu bệnh-chứng) kết luận rằng sự kết hợp giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh và gãy xương, té ngã và hiệu năng vận động (như dáng đi, độ ổn định, và hoạt động) ở phụ nữ sau mãn kinh và nam giới lớn tuổi tỏ ra thiếu nhất quán. Một báo cáo gần đây hơn của Cơ quan Nghiên cứu và Chất lượng Chăm sóc Y tế (AHRQ) và Trung tâm Y khoa Tufts cũng phân tích những nghiên cứu quan sát ấy, kết luận rằng có chứng cớ thẳng thắn và hợp lý về sự kết hợp giữa nồng độ thấp của 25-hydroxyvitamin D huyết thanh và tăng nguy cơ té ngã ở người cao tuổi sống trong viện dưỡng lão.
Những nghiên cứu ngẫu nhiên, đối chứng về bổ sung vitamin D đã đề cập đến ảnh hưởng trên kết cục xương, nhưng phần lớn những thử nghiệm này sử dụng bổ sung vitamin D và calci nên khó có thể phân biệt tác dụng đặc hiệu của vitamin D. Kết quả của một tổng phân tích năm 2007 gồm 29 nghiên cứu bổ sung với calci lẫn vitamin D và calci đơn độc gợi ý rằng bổ sung hằng ngày 1200 mg calci và ít nhất 800 đơn vị vitamin D sẽ giảm tỷ lệ gãy xương và làm gia tăng vừa phải mật độ khoáng xương, nhưng mối tương quan giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh với kết cục xương không được đánh giá. Một tổng phân tích Cochrane 2009 gồm 10 thử nghiệm đánh giá tác dụng của bổ sung vitamin D đơn độc và 8 nghiên cứu đánh giá tác dụng của vitamin D cộng với calci cho thấy sự tương quan không ý nghĩa giữa bổ sung vitamin D đơn độc và giảm nguy cơ gãy xương. Tuy nhiên, một nghiên cứu đã khẳng định kết luận của tổng phân tích 2007 cho rằng calci cộng với vitamin D có tác dụng ở mức không đáng kể trong việc làm giảm nguy cơ gãy xương ở người già khi so sánh với không bổ sung (tỉ số odd 0,89; khoảng tin cậy 95%: 0,80 đến 0,99).
Mặc dù dữ liệu quan sát gợi ra mối liên quan nghịch giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh và nguy cơ té ngã ở những BN già trong viện dưỡng lão, nhưng chứng cớ không nhất quán, với nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích của việc bổ sung vitamin D và nhiều nghiên cứu khác cho thấy không có ích trên nguy cơ gãy xương hay té ngã trong nhiều quần thể khác nhau. Tương tự, một nghiên cứu ngẫu nhiên của tổ chức WHI (Women’ Health Initiative) cho thấy gãy xương hông giảm không có ý nghĩa ở phụ nữ nhận tổng cộng 700 đơn vị vitamin D và hơn 2000 mg calci mỗi ngày. Tuy nhiên, mức thu nạp nền cao của calci (trung bình 1100 đến 1200 mg) và vitamin D (gần 300 đơn vị mỗi ngày) ở nhóm giả dược đã hạn chế khả năng của các nhà nghiên cứu phát hiện tác dụng của thuốc bổ sung. Phân tích các phân nhóm phụ nữ trên 60 tuổi và phụ nữ gắn bó với chế độ bổ sung cho thấy giảm có ý nghĩa gãy xương hông khi có bổ sung, nhưng cần thận trọng khi lý giải những kết quả này. Những nghiên cứu ngẫu nhiên về bổ sung vitamin D2 hay D3 (với liều hằng ngày 400 đến 822 đơn vị) được công bố sau phân tích AHRQ-Tuft cũng không cho thấy tác dụng có ý nghĩa khi bổ sung vitamin D trên nguy cơ gãy xương và té ngã của người cao tuổi. Tuy vậy, một trong những nghiên cứu đó cho thấy bổ sung vitamin D ở liều 400 mg/ngày cải thiện được dáng đi và sự chao đảo của cơ thể.
Nhiều nghiên cứu quan sát lớn đã để cập đến vấn đề liệu có một nồng độ ngưỡng của 25-hydroxy-vitamin D mà dưới mức đó sẽ có nhiều khả năng xảy ra những kết cục bất lợi trên xương. Trong một nghiên cứu trên nam giới lớn tuổi, những nồng độ dưới 16 ng/ml (40 nmol/lít) kết hợp với nguy cơ gãy xương cao hơn, trong khi ở một nghiên cứu khác, nam giới có nồng độ dưới 20 ng/ml có tỷ lệ mất xương ở xương đùi cao hơn so với nam giới có nồng độ cao. Trong nghiên cứu dọc Osteoporotic Fracture in Men (MrOs), đàn ông lớn tuổi có nồng độ 25-hydroxyvitamin D dưới 20 ng/ml có nguy cơ cao gãy xương hông hơn. Trong một nghiên cứu tiền cứu ở phụ nữ lớn tuổi, nồng độ 25-hydroxy-vitamin D từ 24 đến 26 ng/ml (60 đến 65 nmol/lít) kết hợp với nguy cơ thấp nhất của gãy xương hông; không thấy giảm thêm nguy cơ khi nồng độ cao hơn mức này. Tuy nhiên trong một nghiên cứu trên phụ nữ lớn tuổi ở Tân Tây Lan, nồng độ 25-hydroxyvitamin D dưới 20 ng/ml không kết hợp với tăng nguy cơ gãy xương trong 5 năm theo dõi.

Vitamin D và những tác dụng sức khoẻ khác

Nghiên cứu quan sát trong những đoàn hệ lớn cho thấy những sự kết hợp có ý nghĩa giữa nồng độ thấp của 25-hydroxyvitamin D (tức là dưới 20 ng/ml) và tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa, ung thư và miễn dịch như tiểu đường týp 1 và xơ cứng rải rác. Hai tình trạng thường kết hợp nhất với nồng độ vitamin D thấp là xơ vữa mạch máu và tiểu đường. Ví dụ, nguy cơ tiểu đường týp 2 tăng có ý nghĩa ở những BN giảm nồng độ vitamin D (dưới 30 ng/ml) ngay cả sau khi hiệu chỉnh với BMI và tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể. Tương tự, một nghiên cứu tiền cứu khác cho thấy nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh thấp dưới 20 ng/ml kết hợp với tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Tuy nhiên, không có đủ dữ liệu từ những nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng lớn, để đánh giá liệu bổ sung vitamin D có làm giảm nguy cơ những bệnh mạn tính khác ngoài loãng xương hay không.

NHỮNG LÃNH VỰC KHÔNG CHẮN CHẮN
Động học của sự dự trữ vitamin D và tái nhập vào hệ thống tuần hoàn vẫn chưa hiểu rõ, đặc biệt ở người béo phì. Liều tối ưu của vitamin D vẫn chưa được biết chắc. Thường mỗi 100 đơn vị vitamin D ăn vào, làm tăng khoảng 1 ng/ml (3 nmol/lít) nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh, nồng độ 25-hydroxyvitamin D càng thấp thì mức tăng càng cao khi bổ sung vitamin D. Phần lớn các thử nghiệm đánh giá sự kết hợp giữa 25-hydroxyvitamin D và nguy cơ gãy xương và té ngã đã dùng liều vitamin D từ 400 đến 1000 đơn vị/ngày. Hiếm thấy dữ liệu về tác dụng của bổ sung lâu dài với liều cao hơn 1000 đơn vị/ngày. Trong một thử nghiệm đối chứng giả dược, mới được công bố gần đây, trên BN cao tuổi không sống trong viện, uống 500.000 đơn vị vitamin D một lần/năm trong ba năm cho thấy tăng tỷ lệ té ngã và gãy xương khi so với người dùng giả dược, đặc biệt trong ba tháng đầu sau khi dùng. Kết quả này gợi ý rằng những liều cao ngắt quảng, khi so sánh liều hằng ngày, có thể được chuyển hóa và sử dụng một cách khác hơn. Sau cùng, thiếu dữ liệu từ những thử nghiệm lớn, đối chứng, ngẫu nhiên, được thiết kế để xác định xem bổ sung vitamin D có làm giảm nguy cơ những bệnh quan trọng khác như ung thư đại tràng, mà  dữ liệu quan sát cho thấy giảm nguy cơ khi có bổ sung. Thử nghiệm đang tiến hành Vitamin D và Omega-3 (VITAL), một nghiên cứu 5 năm, ngẫu nhiên, đối chứng giả dược, trên 20.000 người Mỹ, cả nam lẫn nữ, khảo sát việc bổ sung vitamin D (2000 đơn vị/ngày) có hoặc không có bổ sung acid béo n-3, để dự phòng [C1] cấp một đối với ung thư và bệnh tim mạch.
Độc tính do bổ sung vitamin D hiếm gặp và chủ yếu là tăng calci-máu cấp, thường do dùng liều vượt quá 10.000 đơn vị/ngày; kết hợp với nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh trên 150 ng/ml (375 nmol/lít). Gần đây, Viện Y học Hoa Kỳ (IOM) đã đề ra giới hạn trên có thể dung nạp được của liều vitamin D là 4000 đơn vị/ngày. Ảnh hưởng lâu dài của liều trên 4000 đơn vị không được rõ và không thể loại trừ khả năng nguy cơ. Những nghiên cứu quan sát gần đây cho thấy sự kết hợp giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh trên 60 ng/ml (150 nmol/lit) và tăng nguy cơ ung thư tụy, hóa vôi mạch máu và tử vong do nguyên nhân bất kỳ, nhưng do bản chất là nghiên cứu quan sát, nên khó lòng đánh giá nguyên nhân và hậu quả. Cần có thêm các nghiên cứu dọc và nghiên cứu đối chứng
Nhiều nghiên cứu gợi ý rằng bổ sung vitamin D có thể có hiệu quả nhất trong việc giảm gãy xương hay té ngã ở người già ở viện, mà nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh thường thấp dưới 20 ng/ml. Tuy nhiên liều tối ưu  vẫn chưa được biết. Cần có một nghiên cứu lớn, ngẫu nhiên, dài hạn để khảo sát tác dụng của những liều vitamin D khác nhau trên các số đo hiệu năng thể chất và xuất độ té ngã và gãy xương tcủa người già ở viện.

HƯỚNG DẪN CỦA CÁC HỘI CHUYÊN KHOA
Ở một hội nghị quốc tế về vitamin D tổ chức năm 2007, có sự nhất trí rằng phần đông dân số thế giới không có đủ vitamin D để duy trì một khối lượng xương khỏe và giảm thiểu nguy cơ gãy xương. Những thành viên hội nghị cũng đồng ý rắng giảm vitamin D làm giảm sức cơ và tăng nguy cơ té ngã. Khuyến cáo từ hội nghị này, dựa vào những dữ liệu quan sát khả dụng, cho rằng nồng độ tối thiểu thỏa đáng của 25-hydroxyvitamin D là 20 ng/ml. Ba năm sau, Hội Loãng xương Canada có một báo cáo nói rằng nồng độ 25 hydroxyvitamin D ít nhất phải là 30 ng/ml và định nghĩa thiếu vitamin D khi nồng độ từ 10 đến 29 ng/ml. Năm 2010, Hội Loãng xương Quốc tế đưa ra tuyên bố về tình trạng vitamin D, cũng dựa vào những dữ liệu quan sát, khuyến cáo nồng độ đích của 25-hydroxyvitamin D trong huyết thanh là 30 ng/ml ở tất cả người lớn tuổi và nói rằng mức thu nạp vitamin D hàng ngày lên đến 2000 đơn vị/ngày có thể cần thiết để đạt nồng độ khuyến cáo ở một số người. Trái lại, báo cáo của IOM, dựa trên chứng cớ nghiên cứu quan sát và những thử nghiệm ngẫu nhiên gần đây, gợi ý nồng độ huyết thanh 20 ng/ml của 25-hydroxy-vitamin D sẽ bảo vệ 97,5% dân chúng chống các kết cục bất lợi trên xương như gãy xương và té ngã.

KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KHUYẾN CÁO     
Người phụ nữ mô tả trên là một phụ nữ sau mãn kinh khỏe mạnh với mật độ khoáng xương hơi thấp và nồng độ 25-hydroxyvitamin D là 21 ng/ml. Mặc dù phòng xét nghiệm đã làm xét nghiệm này, và những phòng xét nghiệm khác nữa, cho mức này là giảm, nhưng chắc chắn bà ta không bị thiếu vitamin D. Theo Công cụ Đánh Giá Nguy cơ Gãy xương (Fracture Risk Assessement Tool (FRAX)) của Tổ chức Y tế Thế giới, xác suất bà ta sẽ bị gãy xương hông trong 10 năm tới là thấp hơn 1%. Hơn nữa, bà không có nguy cơ cao té ngã và ít khả năng có chứng nhuyễn xương. Do đó, đối với những BN như bà, sẽ khuyến cáo một chương trình luyện tập thể lực và dùng calci 1200 mg/ngày. Vẫn không biết chắc liệu bổ sung vitamin D có thích hợp cho bà ta hay không, và nếu có, thì nên dùng liều nào, mặc dù hướng dẫn gần đây của IOM khuyên dùng 600 đơn vị/ngày cho phụ nữ sau mãn kinh không có nguy cơ cao loãng xương và té ngã và liều 800 đơn vị/ngày cho người có nguy cơ rất cao loãng xương hoặc người già trên 70 tuổi. Cũng nên giải thích thêm rằng tuy gần đây các phương tiện truyền thông nói nhiều đến vai trò tiềm năng của vitamin D trong giảm nguy cơ của nhiều bệnh mạn tính khác nhau, giả thiết này cần được kiểm định bằng những thử nghiệm ngẫu nhiên, đối chứng lớn, và hiện tại không nên khuyên dùng vitamin D cho mục đích giảm nguy cơ bệnh tim và ung thư.

BS Phan Công Tân, dịch theo Clifford J. Rosen, “Vitamin D Insufficiency” trong tạp chí N Engl J Med 2011; 364:248-54.
Hiệu đính: BS Nguyễn Triển

Download pdf

Nhiễm trùng niệu ở phụ nữ có thai

Nguyễn Hoàng Đức
Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

URINARY TRACT INFECTIONS IN PREGNANCY
Urinary tract infections frequently complicate pregnancy with their concomitant morbidities. Asymptomatic bacteriuria (ASB), if left unrecognized and untreated, frequently progresses to pyelonephritis, and is associated with preterm delivery and low birth weight infants. A possible association exists between ASB and cognitive delay. Pyelonephritis is a serious medical condition in pregnancy and poses a significant medical risk to maternal, and, therefore, fetal well-being. Patients should be treated immediately and failure of response should be evaluated promptly. Close observation is necessary to detect complications, such as septic shock and respiratory insufficiency. When afebrile for 48 hours, patients may be discharged home with increased surveillance for the duration of the pregnancy. The risk of recurrence may be minimized with suppression therapy, or alternatively, monthly urine cultures

Nhiễm trùng niệu (NTN) là bệnh thường gặp ở phụ nữ có thai với tỉ lệ mắc mới (incidence) khoảng 8%.(1,2) Trong số đó, 1–2% số bệnh nhân có triệu chứng NTN và 2 – 13% không biểu hiện triệu chứng NTN.(3) Những thay đổi sinh lý trong thai kỳ khiến phụ nữ mang thai dễ bị NTN. Do tác động chống co thắt của progesterone và sự chèn ép của tử cung lên bàng quang, khả năng tống thoát của bàng quang suy giảm làm tăng thể tích nước tiểu tồn lưu và tăng nguy cơ ngược dòng bàng quang–niệu quản. Ngoài ra, sự thay đổi độ lọc cầu thận trong quá trình mang thai làm tăng độ cô đặc glucose-niệu và tính chất kiềm của nước tiểu cũng tạo thuận lợi cho vi trùng phát triển.(4) Nếu không điều trị, NTN sẽ đưa đến những biến chứng viêm thận–bể thận, trẻ sinh thiếu cân, sinh non và đôi khi đưa đến thai chết lưu.(5) Theo McDermott, nguy cơ tương đối bị chậm phát triển và trì trệ tâm thần ở trẻ có mẹ nhiễm trùng niệu trong thai kỳ cao hơn 1,31 lần so với nhóm trẻ mẹ không có nhiễm trùng niệu trong thai kỳ (khoảng tin cậy 95%: 1,12-1,54). Nếu phụ nữ có thai mắc bệnh nhưng không điều trị nhiễm trùng niệu, trẻ sinh ra có nguy cơ tương đối chậm phát triển và trì trệ tâm thần là 1,22 lần cao hơn (khoảng tin cậy 95%: 1,02-1,46) so với những trẻ mà mẹ được điều trị nhiễm trùng niệu.(6) Do đó việc phát hiện sớm và điều trị tích cực NTN ở phụ nữ có thai rất quan trọng.

NTN ở phụ nữ có thai được chia làm 3 loại: khuẩn niệu không triệu chứng, viêm bàng quang, và viêm thận–bể thận cấp.(7)

Khuẩn niệu không triệu chứng
Tiêu chuẩn kinh điển chẩn đoán “khuẩn niệu không triệu chứng” gồm: (4,5,7)
· Bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng của nhiễm trùng niệu
· Cấy nước tiểu có trên 105 khúm vi trùng/1 mL nước tiểu trong hai lần cấy liên tiếp
· Chỉ hiện diện duy nhất một chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến của đường tiết niệu như Escherichia coli (chiếm 80–90% trường hợp), Klebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis, Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus agalacticae, Staphylococcus saphrophyticus
Tuy nhiên một số nghiên cứu gần đây cảnh báo với số lượng từ 102–103 khúm vi trùng/mL nước tiểu đã đủ khả năng gây viêm thận–bể thận cấp ở phụ nữ có thai.(8-10) Tỉ lệ mắc mới “khuẩn niệu không triệu chứng” ở phụ nữ có thai tương đương phụ nữ không có thai, từ 2–14%.(10,11) Các yếu tố thúc đẩy khuẩn niệu không triệu chứng gồm: tình trạng kinh tế-xã hội kém, lớn tuổi, sinh nhiều lần, hành vi tính dục nguy cơ cao hoặc thai phụ có tiền sử nhiễm trùng niệu ở tuổi thiếu nhi. Tỉ lệ hiện mắc (prevalence) khuẩn niệu không triệu chứng tăng đáng kể ở những thai phụ có bệnh đái tháo đường, thiếu máu hồng cầu hình liềm, suy giảm miễn dịch, bất thường giải phẫu hệ tiết niệu và chấn thương tủy sống.(12)
Ở phụ nữ có thai, nếu không điều trị, 20–40% số trường hợp khuẩn niệu không triệu chứng sẽ diễn tiến đến viêm thận–bể thận cấp. Ở thuần tập phụ nữ không có thai, tỉ lệ này chỉ khoảng 1–2%. Nếu điều trị thích hợp, chỉ 3% số trường hợp khuẩn niệu không triệu chứng diễn tiến đến viêm thận–bể thận cấp.(13)
Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ đề nghị tầm soát khuẩn niệu không triệu chứng ở mọi phụ nữ có thai bằng cấy nước tiểu vào thời điểm từ tuần 12–16 của thai kỳ.(14,15) Nếu kết quả cấy nước tiểu dương tính thì đây là thời điểm thuận lợi nhất để điều trị và đảm bảo an toàn cho suốt thai kỳ còn lại.(13) Xét nghiệm nước tiểu với que nhúng (dipstick) có độ nhạy chẩn đoán nhiễm trùng niệu từ 50–92% và giá trị tiên đoán âm tính 99,2%.(16) Tuy nhiên để có chẩn đoán dương tính, xét nghiệm với que nhúng đòi hỏi số lượng khúm vi trùng trong nước tiểu phải từ 105/mL trở lên.(8) Do khuynh hướng hiện nay là cố gắng phát hiện tình trạng khuẩn niệu không triệu chứng khi số lượng khúm vi trùng còn thấp, nên xét nghiệm nước tiểu với que nhúng chưa thể thay thế việc cấy nước tiểu trong nỗ lực tầm soát tình trạng này ở phụ nữ có thai.(4)
Smaill và cộng sự qua một tổng phân tích đã chứng minh có thể dùng nhiều loại kháng sinh khác nhau điều trị khuẩn niệu không triệu chứng với hiệu quả tương đương nhau.(17)Điều trị với kháng sinh phổ rộng là chủ yếu vì chưa dự đoán được chủng vi khuẩn gây bệnh ở thời điểm bắt đầu điều trị. Các yếu tố phải lưu ý khi lựa chọn kháng sinh là khả năng kháng thuốc của vi khuẩn trong cộng đồng, dược động học của thuốc, tác dụng phụ, thời gian điều trị và giá thành điều trị.(18)
· Kháng sinh nhóm b-lactam: do những thay đổi dược động học trong thai kỳ nên nồng độ huyết tương của thuốc giảm đi 50%.(5) Ngoài ra khả năng kháng thuốc của chủng E. coli có thể đến 60%.(8) Trong nhóm này, cephalexin và penicillin là hai thuốc thường dùng trong thai kỳ nhất.
· Nitrofuratoin là kháng sinh lý tưởng và an toàn trong thai kỳ.(7) Do tỉ lệ kháng thuốc rất thấp nên đây là kháng sinh được dùng nhiều nhất điều trị nhiễm trùng niệu ở phụ nữ có thai.(19) Tuy nhiên nitrofurantoin có tác dụng kém với chủng Proteus và có nhiều tác dụng phụ lên hệ tiêu hóa.(7)
· Trimethoprim-sulfamethoxazole chống chỉ định dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ do tác động ức chế chuyển hóa folat của thuốc có thể gây khuyết tật ống thần kinh của thai.
· Sulfonamide không được dùng trong 3 tháng cuối thai kỳ vì nguy cơ tổn thương não do vàng da sơ sinh và do những tác động lên chuyển hóa folat của thuốc.
· Fluoroquinolone có thể gây nguy cơ bệnh khớp ở trẻ sơ sinh nên chống chỉ định dùng trong thai kỳ.(5,10)
Thời gian điều trị kháng sinh ở phụ nữ có thai ít nhất 7 ngày.(4,5,12,20) Nếu sau 7 ngày vi trùng vẫn còn hiện diện trong nước tiểu, tiếp tục sử dụng một đợt 7–14 ngày kháng sinh cùng loại hoặc khác loại, tùy thuộc hướng dẫn của kháng sinh đồ. Hiện nay chưa đủ chứng cứ ủng hộ việc sử dụng kháng sinh chỉ kéo dài 3 ngày trong điều trị khuẩn niệu không triệu chứng ở phụ nữ có thai.(21)
Sau khi điều trị hết vi trùng trong nước tiểu, bệnh nhân vẫn cần cấy nước tiểu hàng tháng cho đến hết thai kỳ do khả năng tái phát lên đến 30%.(8,13,20,22,23) Nếu tái nhiễm với cùng một chủng vi khuẩn hoặc tái phát với chủng vi khuẩn mới, phải điều trị đầy đủ như lần nhiễm khuẩn trước, dựa trên kết quả kháng sinh đồ. Để tránh tái phát, có thể cân nhắc cho bệnh nhân sử dụng kháng sinh hàng ngày liều thấp (cephalexin 125–250mg; nitrofurantoin 50–100mg) liên tục đến sau sinh.(24) Tuy nhiên sử dụng cephalosporin kéo dài có thể gây nhiễm nấm Candida mạn tính ở âm đạo.(5)

Viêm bàng quang
Biểu hiện của viêm bàng quang cấp gồm tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đau, tiểu mủ, tiểu máu và không kèm triệu chứng toàn thân. Cấy nước tiểu có trên 105 khúm vi khuẩn/mL.(7)Khác với khuẩn niệu không triệu chứng, tình trạng viêm bàng quang không làm tăng nguy cơ viêm thận–bể thận cấp ở phụ nữ có thai. Đa số các trường hợp viêm bàng quang xảy ra ở những thai phụ chưa hề có tình trạng khuẩn niệu trước đó nên việc tầm soát không làm giảm được tỉ lệ mắc mới ở phụ nữ có thai.(25) Yếu tố nguy cơ viêm bàng quang trong thai kỳ tương tự như với các bệnh nhân khuẩn niệu không triệu chứng. Ngoài ra còn một số yếu tố nguy cơ khác như tiền sử nhiễm Chlamydia trachomatis, sử dụng các thuốc gây nghiện.(26)
Do các chủng vi khuẩn gây viêm bàng quang giống như vi khuẩn gây khuẩn niệu không triệu chứng nên cách điều trị và theo dõi cũng tương tự.
Một số phụ nữ có triệu chứng viêm bàng quang cấp nhưng cấy nước tiểu không có vi khuẩn. Nếu bệnh nhân chưa hề dùng kháng sinh trước đó thì khả năng bị hội chứng niệu đạo rất cao. Nên cấy dịch niệu đạo tìm Chlamydia để chẩn đoán xác định và điều trị thích hợp.(27)

Viêm thận–bể thận cấp
Viêm thận–bể thận cấp xảy ra ở 1–2% số phụ nữ có thai.(28) Đây là loại nhiễm trùng niệu nguy hiểm trong thai kỳ vì có thể gây nhiều biến chứng cho thai phụ. Ngoài các yếu tố nguy cơ tương tự như trong viêm bàng quang cấp, viêm thận–bể thận dễ xảy ra ở những thai phụ có tiền sử viêm thận–bể thận, có bất thường giải phẫu hệ tiết niệu hoặc có sỏi niệu.(13) Gần 67% số trường hợp viêm thận–bể thận chỉ xảy ra trong 6 tháng cuối thai kỳ; 4% xảy ra trong 3 tháng đầu thai kỳ và 27% xảy ra sau sinh.(8) Do tư thế giải phẫu của tử cung khi mang thai có khuynh hướng nghiêng và chèn ép sang phải nên đa số viêm thận–bể thận ảnh hưởng đến thận phải nhiều hơn thận trái.(4)

 

Bảng 1 – Kháng sinh tĩnh mạch trong viêm thận–bể thận ở phụ nữ có thai (37,38)

Kháng sinh Liều Nguy cơ thai kỳ
Ampicillin + Gentamycin 2g mỗi 6 giờ Loại B
Gentamycin 2mg/kg khởi đầu, sau đó 1,7mg/kg chia 3 liều Loại C
Ampicillin-sulbactam 3g mỗi 6 giờ Loại B
Ceftriaxone 1g mỗi 24 giờ Loại B
Cefuroxime 0,75 – 1,5g mỗi 8 giờ Loại B
Cefazolin 1 – 2g mỗi 6 – 8 giờ Loại B
Mezlocillin 3g mỗi 6 giờ Loại B
Piperacillin 4g mỗi 8 giờ Loại B

Loại B: nghiên cứu trên động vật không ảnh hưởng thai nhưng chưa có nghiên cứu nhóm chứng ở người
Loại C: chưa có nghiên cứu nhóm chứng ở người, nghiên cứu ở động vật có ảnh hưởng đến thai

Bệnh nhân viêm thận–bể thận cấp có biểu hiện toàn thân rầm rộ: sốt, đau hông lưng, đau góc sườn– sống, lạnh run, nôn hoặc buồn nôn và đôi khi có thêm triệu chứng tiểu đau buốt nhiều lần.(13) Chẩn đoán xác định khi cấy nước tiểu có trên 104 khúm của một chủng vi khuẩn/mL nước tiểu giữa dòng.(29) Các chủng vi khuẩn gây bệnh thường gặp: E coli chiếm 70–80% trường hợp. Klebsiella pneumoniae và Proteus ít gặp hơn nhưng là những chủng vi khuẩn dễ gây tái phát bệnh.(30) Viêm thận–bể thận cấp là nguyên nhân hàng đầu gây sốc nhiễm trùng ở phụ nữ có thai.(31) Tỉ lệ sinh non ở thai phụ viêm thận–bể thận cấp từ 6–50% tùy thuộc tuổi thai ở thời điểm mắc bệnh và loại kháng sinh điều trị.(13)
Giá trị của cấy máu rất giới hạn vì đa số chủng vi khuẩn phân lập được từ máu không khác với chủng vi khuẩn phân lập từ nước tiểu.(32) Ngoài ra, MacMillan đã chứng minh 90% số trường hợp vi khuẩn gây bệnh nhạy với kháng sinh điều trị ban đầu; chỉ 2% trường hợp vi khuẩn phân lập từ máu và 3% trường hợp vi khuẩn phân lập từ nước tiểu không nhạy và cần đổi kháng sinh mới.(33) Theo tác giả chỉ nên cấy máu khi bệnh nhân sốc nhiễm trùng, sốt trên 39oC hoặc có dấu hiệu suy hô hấp.
Khoảng 25% số thai phụ viêm thận–bể thận cấp có tình trạng suy thận thoáng qua (giảm ít nhất 50% độ thanh thải creatinin).(34) Ngoài ra bệnh nhân có thể bị giảm kali-máu, thiếu máu, giảm tiểu cầu, tăng LDH do tán huyết.(7) Các rối loạn này sẽ tự ổn định sau khi điều trị nhiễm trùng. Viêm thận–bể thận còn kích hoạt đáp ứng viêm của cơ thể phóng thích interleukin-6 và interleukin-8 gây tổn thương sẹo xơ hóa nhu mô thận.(35) Theo Horcajada, sự phóng thích interleukin sẽ giảm đi nhanh chóng trong vòng 6 giờ và trở về bình thường 24 giờ sau khi dùng kháng sinh.(36) Do đó để hạn chế tổn thương nhu mô thận, sau khi có chẩn đoán lâm sàng, nên bắt đầu dùng ngay kháng sinh phổ rộng đường tĩnh mạch (bảng 1). Kháng sinh hàng đầu là cephalosporin thế hệ thứ nhất.(23) Khi sử dụng kháng sinh nhóm aminoglycoside ở những bệnh nhân suy thận, nên thận trọng theo dõi điều chỉnh nồng độ thuốc trong huyết tương.
Sau khi dùng kháng sinh thích hợp, 75% số bệnh nhân hết triệu chứng và hết lạnh run trong vòng 48 giờ; 95% hết sốt trong vòng 72 giờ.(13,23) Nếu sau 72 giờ dùng kháng sinh bệnh nhân chưa đáp ứng lâm sàng chứng tỏ vi khuẩn kháng thuốc, hoặc bệnh nhân có sỏi tiết niệu hoặc có dị dạng đường tiết niệu. Trong tình huống này, nên thêm vào hoặc thay thế kháng sinh nhóm aminoglycoside và thực hiện xét nghiệm hình ảnh đường tiết niệu. Ở phụ nữ có thai, độ nhạy chẩn đoán sỏi niệu của siêu âm rất kém.(39) Để phát hiện bất thường của đường tiết niệu, có thể chụp 1 phim duy nhất của hệ niệu 20–30 phút sau tiêm cản quang hoặc dùng MRI.(39)
Sau khi hết sốt 48 giờ, có thể ngưng kháng sinh tĩnh mạch và tiếp tục duy trì kháng sinh uống trong 2 tuần. Cấy nước tiểu mỗi tháng cho đến hết thai kỳ để phát hiện sớm những trường hợp tái phát.(13) Để giảm 95% khả năng tái phát, nên dùng kháng sinh liều thấp mỗi ngày (nitrofurantoin 10mg/ngày) liên tục đến 4–6 tuần sau sinh.(40)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Delzell JE, Jr., Lefevre ML. Urinary tract infections during pregnancy. Am Fam Physician 2000;61:713-21.
2.Orenstein R, Wong ES. Urinary tract infections in adults. Am Fam Physician 1999;59:1225-34, 37.
3.Dwyer PL, O’Reilly M. Recurrent urinary tract infection in the female. Curr Opin Obstet Gynecol 2002;14:537-43.
4.Connolly A, Thorp JM, Jr. Urinary tract infections in pregnancy. Urol Clin North Am 1999;26:779-87.
5.Christensen B. Which antibiotics are appropriate for treating bacteriuria in pregnancy? J Antimicrob Chemother 2000;46 Suppl 1:29-34; discussion 63-5.
6.McDermott S, Callaghan W, Szwejbka L, Mann H, Daguise V. Urinary tract infections during pregnancy and mental retardation and developmental delay. Obstet Gynecol 2000;96:113-9.
7.Mittal P, Wing DA. Urinary tract infections in pregnancy. Clin Perinatol 2005;32:749-64.
8.Le J, Briggs GG, McKeown A, Bustillo G. Urinary tract infections during pregnancy. Ann Pharmacother 2004;38:1692-701.
9.Lenke RR, VanDorsten JP, Schifrin BS. Pyelonephritis in pregnancy: a prospective randomized trial to prevent recurrent disease evaluating suppressive therapy with nitrofurantoin and close surveillance. Am J Obstet Gynecol 1983;146:953-7.
10. Krcmery S, Hromec J, Demesova D. Treatment of lower urinary tract infection in pregnancy. Int J Antimicrob Agents 2001;17:279-82.
11. Millar LK, Cox SM. Urinary tract infections complicating pregnancy. Infect Dis Clin North Am 1997;11:13-26.
12. Ovalle A, Levancini M. Urinary tract infections in pregnancy. Curr Opin Urol 2001;11:55-9.
13. Wing DA. Pyelonephritis. Clin Obstet Gynecol 1998;41:515-26.
14. Antimicrobial therapy for obstetric patients. In. Washington DC: American College of Obstetricians and Gynecologists: [ACOG Technical Bulletin No 17]; 1998.
15. Guide to cinical preventive services. Periodic updates. In: Rockville: Agency for Healthcare Quality and Research; 2004:[AHRQ Publication #04-IP003].
16. Rouse DJ, Andrews WW, Goldenberg RL, Owen J. Screening and treatment of asymptomatic bacteriuria of pregnancy to prevent pyelonephritis: a cost-effectiveness and cost-benefit analysis. Obstet Gynecol 1995;86:119-23.
17. Smaill F. Antibiotics for asymptomatic bacteriuria in pregnancy. Cochrane Database Syst Rev 2001:CD000490.
18. Nicolle LE. Urinary tract infection: traditional pharmacologic therapies. Am J Med 2002;113 Suppl 1A:35S-44S.
19. Huang ES, Stafford RS. National patterns in the treatment of urinary tract infections in women by ambulatory care physicians. Arch Intern Med 2002;162:41-7.
20. Gilstrap LC, 3rd, Ramin SM. Urinary tract infections during pregnancy. Obstet Gynecol Clin North Am 2001;28:581-91.
21. Villar J, Lydon-Rochelle MT, Gulmezoglu AM, Roganti A. Duration of treatment for asymptomatic bacteriuria during pregnancy. Cochrane Database Syst Rev 2000:CD000491.
22. Tan JS, File TM, Jr. Treatment of bacteriuria in pregnancy. Drugs 1992;44:972-80.
23. Wing DA. Pyelonephritis in pregnancy: treatment options for optimal outcomes. Drugs 2001;61:2087-96.
24. Pfau A, Sacks TG. Effective prophylaxis for recurrent urinary tract infections during pregnancy. Clin Infect Dis 1992;14:810-4.
25. Harris RE, Gilstrap LC, 3rd. Cystitis during pregnancy: a distinct clinical entity. Obstet Gynecol 1981;57:578-80.
26. Pastore LM, Savitz DA, Thorp JM, Jr., Koch GG, Hertz-Picciotto I, Irwin DE. Predictors of symptomatic urinary tract infection after 20 weeks’ gestation. J Perinatol 1999;19:488-93.
27. Renal and urinary tract disorders. In: Cunningham F, Gant N, Lenevo K, eds. 21st ed. New York: McGraw Hill; 2001:1251-72.
28. Gilstrap LC, 3rd, Cunningham FG, Whalley PJ. Acute pyelonephritis in pregnancy: an anterospective study. Obstet Gynecol 1981;57:409-13.
29. Warren JW, Abrutyn E, Hebel JR, Johnson JR, Schaeffer AJ, Stamm WE. Guidelines for antimicrobial treatment of uncomplicated acute bacterial cystitis and acute pyelonephritis in women. Infectious Diseases Society of America (IDSA). Clin Infect Dis 1999;29:745-58.
30. Dunlow S, Duff P. Prevalence of antibiotic-resistant uropathogens in obstetric patients with acute pyelonephritis. Obstet Gynecol 1990;76:241-4.
31. Mabie WC, Barton JR, Sibai B. Septic shock in pregnancy. Obstet Gynecol 1997;90:553-61.
32. Velasco M, Martinez JA, Moreno-Martinez A, et al. Blood cultures for women with uncomplicated acute pyelonephritis: are they necessary? Clin Infect Dis 2003;37:1127-30.
33. MacMillan MC, Grimes DA. The limited usefulness of urine and blood cultures in treating pyelonephritis in pregnancy. Obstet Gynecol 1991;78:745-8.
34. Whalley PJ, Cunningham FG, Martin FG. Transient renal dysfunction associated with acute pyelonephritis of pregnancy. Obstet Gynecol 1975;46:174-7.
35. Haraoka M, Senoh K, Ogata N, Furukawa M, Matsumoto T, Kumazawa J. Elevated interleukin-8 levels in the urine of children with renal scarring and/or vesicoureteral reflux. J Urol 1996;155:678-80.
36. Horcajada JP, Velasco M, Filella X, et al. Evaluation of inflammatory and renal-injury markers in women treated with antibiotics for acute pyelonephritis caused by Escherichia coli. Clin Diagn Lab Immunol 2004;11:142-6.
37. Vazquez JC, Villar J. Treatments for symptomatic urinary tract infections during pregnancy. Cochrane Database Syst Rev 2003:CD002256.
38. Wing DA, Hendershott CM, Debuque L, Millar LK. A randomized trial of three antibiotic regimens for the treatment of pyelonephritis in pregnancy. Obstet Gynecol 1998;92:249-53.
39. Butler EL, Cox SM, Eberts EG, Cunningham FG. Symptomatic nephrolithiasis complicating pregnancy. Obstet Gynecol 2000;96:753-6.
40. Sandberg T, Brorson JE. Efficacy of long-term antimicrobial prophylaxis after acute pyelonephritis in pregnancy. Scand J Infect Dis 1991;23:221-3.

Download pdf

Shigella kháng thuốc tại tp hồ chí minh

Hà Vinh

Bác Sĩ Trưởng Khoa, Khoa Nhi B, BV Bệnh Nhiệt Đới, TP Hồ Chí Minh

Tiêu chảy cấp là một bệnh lý rất thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là các trẻ dưới 5 tuổi (Kosek, Bern và cs. 2003). Đa số tiêu chảy cấp ở trẻ em là do vi-rút gây ra (rotavirus, norovirus…) (Bodhidatta, Lan và cs. 2007). Theo một nghiên cứu ở Hà Nội, Shigella là vi khuẩn quan trọng nhất trong số các vi khuẩn phân lập được ở trẻ em dưới năm tuổi đến khám vì tiêu chảy cấp (Hien, Scheutz và cs. 2008). Ở Việt Nam, xuất độ tiêu chảy do Shigella báo cáo về Bộ Y Tế  là trong khoảng 54- 70/100.000/năm (Kelly-Hope, Alonso và cs. 2007). Trên bình diện khu vực Châu Á, Shigella được ước tính mỗi năm gây ra 91 triệu đợt tiêu chảy cấp, cướp đi sinh mạng của 414.000 trẻ em (WHO 2005). Việc điều trị bệnh do Shigella gần đây đã được thống nhất theo hướng dẫn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, và của Bộ Y Tế Việt Nam (WHO 2005; Bộ Y Tế 2009). Nội dung bao gồm 3 vấn đề chủ yếu là: kháng sinh, bù nước – điện giải, và dinh dưỡng.

Kháng sinh trị liệu, trước hết rút ngắn thời gian bệnh, ngăn ngừa việc xảy ra các biến chứng, và sau nữa cắt đứt đường lan truyền của vi khuẩn ra cộng đồng.
Hiện nay, theo hướng dẫn của Bộ Y Tế, ciprofloxacin là kháng sinh hàng đầu cho cả người lớn và trẻ em. Các kháng sinh khác có thể dùng thay thế là azithromycin, cephalosporin thế hệ 3 (ceftriaxone chích tĩnh mạch), và pivmecillinam (thuốc này không lưu hành tại Việt Nam).

Vấn đề khó khăn trong kháng sinh trị liệu là tình trạng Shigella kháng thuốc.

Tại BV Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2009 chúng tôi có dịp theo dõi sự thay đổi về tính kháng kháng sinh của các chủng Shigella phân lập được từ bệnh nhi nhập viện vì tiêu chảy cấp, chủ yếu từ TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận, cũng như tại Đồng Tháp. Những nghiên cứu về tính kháng thuốc của vi khuẩn Shigella lưu hành trong khu vực suốt 15 năm ấy đã được công bố trên y văn (Vinh, Baker và cs. 2009; Vinh, Nhu và cs. 2009; Nhu, Vinh và cs. 2010).
Trong bài này chúng tôi tóm tắt và trình bày, trước hết là tình trạng Shigella kháng các kháng sinh thường dùng trong điều trị bệnh do Shigella, qua đó hậu thuẫn cho hướng dẫn điều trị của Bộ Y Tế; sau đó giới thiệu tình trạng Shigella kháng cephalosporin thế hệ 3 lan truyền qua plasmid mới phát hiện lần đầu tiên tại Việt Nam và có thể là một mối nguy tiềm tàng trong việc điều trị các nhiễm trùng nặng do trực khuẩn Gram âm trong cộng đồng cũng như trong môi trường bệnh viện.
Các chủng Shigella phân tích trong trình bày này:
Chúng tôi phân tích tính kháng thuốc của 297 chủng Shigella được phân lập từ mẫu phân bệnh nhân nhập viện vì tiêu chảy cấp tại khoa Nhi B BV Bệnh Nhiệt Đới TP Hồ Chí Minh trong 3 giai đoạn:
·Giai đoạn A 1995-1996: 80 chủng
·Giai đoạn B 2000-2002: 114 chủng
·Giai đoạn C 2006-2009: 103 chủng (có một số chủng từ Khoa Nhiễm BV Đồng Tháp)
Tính nhạy cảm với kháng sinh được thử bằng phương pháp khuyếch tán trên đĩa Kirby-Bauer, nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) được đo bằng E-test.
Kết quả cho thấy có một sự thay đổi rõ rệt trong tính nhạy cảm với các kháng sinh thường dùng trong điều trị bệnh lỵ trực trùng.

Hình 1. Thay đổi tính kháng thuốc của Shigella qua 3 giai đoạn: A 1995-96, B:2000-02, C:2006-9. TET: tetracyclin, SXT: co-trimoxazole, AMP: ampicillin. CHL: chloramphenicol, OFX: ofloxacin, CRO: ceftriaxone, NAL: nalidixic acid. (Nguồn: Vinh, Nhu và cs. 2009).


Hình 2

Thay đổi tính nhạy cảm với kháng sinh hay dùng trong điều trị tiêu chảy:
1.    Những kháng sinh có mức kháng cao bền vững trong 15 năm 1995-2009:
Co-trimoxazole và tTetracyclin: kháng # 95%

2.    Những kháng sinh giảm tỉ lệ kháng:

–      Ampicillin kháng 75% giai đoạn 1995-96 giảm còn 48% giai đoạn 2006-09
– Chloramphenicol giảm từ 66% xuống 33% (chloramphenicol thực ra ít được dùng trong thực tế điều trị tiêu chảy nhiễm trùng xâm lấn)
Như vậy từ nhưng năm 1995-96 có 62% các chủng Shigella kháng đồng thời 4 loại kháng sinh thường dùng trong điều trị (Vinh, Nhu và cs. 2009). (Hình 1).

3. Những kháng sinh tăng tỉ lệ kháng:

–      Nalidixic acid từ 8% giai đoạn 95-96 tăng lên 68% giai đoạn 2006-09 (Vinh, Nhu và cs. 2009).
–      Kháng ceftriaxone xuất hiện lần đầu 2001 (1%) tăng lên 23% giai đoạn 2006-09.
Ngày càng kháng nhiều kháng sinh hơn
Giai đoạn A 62% chủng Shigella kháng đồng thời 3 kháng sinh hoặc hơn, tăng tới 87% giai đoạn B và 83% giai đoạn C (p = <0,0001, c2test). (Hình 2) (Vinh, Nhu và cs. 2009).

Kháng nalidixic acid ngày càng nhiều

Kháng nalidixic acid 8% giai đoạn 95-96 tăng lên 28% giai đoạn 2000-02 và đạt 68% giai đoạn 2006-2009 (Vinh, Nhu và cs. 2009), (Hình 1). Hiện nay cả Tổ chức Y tế Thế Giới và Bộ Y tế Việt Nam đều khuyến cáo không dùng nalidixic acid để điều trị tiêu chảy do vi trùng đường ruột xâm lấn như Shigella (Bộ Y Tế 2009).
Có một chủng S.fexneri kháng ciprofloxacin phân lập tại Đồng Tháp tháng 9 năm 2008, nhưng đáp ứng tốt với điều trị gatifloxacin uống.

Xuất hiện Shigella kháng cephalosporin thế hệ III

Chủng S. sonnei kháng ceftriaxone được phân lập đầu tiên tại quận 8, TP HCM tháng 2/2001 (Vinh, Baker và cs. 2009). Mãi đến tháng 5/2007 phân lập được chủng thứ hai kháng ceftriaxone cũng tại TP HCM (quận Bình Tân), rồi từ đó số chủng Shigella kháng ceftriaxone tổng cộng lên đến 36 chủng, tính đến tháng 3/2009 (Nhu, Vinh và cs. 2010).
Cơ chế kháng ceftriaxone: do vi khuẩn sản xuất men beta-lactamase phổ rộng (extended-spectrum beta-lactamase, viết tắt ESBL), xác định bằng test đĩa kháng sinh phối hợp (combination disc test). Tính kháng ceftriaxone được truyền dễ dàng từ Shigella qua E. coli trong thí nghiệm cộng hợp (conjugation experiment) thông qua hai loại plasmid: #70 kbp và #100 kbp.
  
Hình 3. Thí nghiệm cộng hợp giữa chủng Shigella gây bệnh và E.coli J53 AzR trong phòng thí nghiệm chứng minh tính kháng ceftriaxone được truyền từ Shigella sang E.coli thông qua plasmid. L: plasmid của E.coli 39R861 có kích thước đã biết 7, 36, 63 và 147 kbp; Hàng trên: số là số nhận diện của chủng Shigella, chữ C đi kèm là vi khuẩn E.coli sau cộng hợp (transconjugant) tương ứng của Shigella đó. Mũi tên ngắn: plasmid #100kbp, mũi tên dài: plasmid #70 kbp. (Nguồn: (Nhu, Vinh và cs. 2010)

Bảng 1. Đặc điểm phân tử của các men ESBL trong các chủng Shigella phân lập được tại TP Hồ Chí Minh, các tỉnh phụ cận và Đồng Tháp. (Nguồn: (Nhu, Vinh et al. 2010)

Bản chất phân tử của men ESBL được xác định (sau khi giải mã và so sánh với các men đã biết): CTX-M-24 (3 chủng phân lập vào tháng 2/2001, 5/2007 và 1/2008 rồi không thấy tái xuất hiện) và CTX-M-15 (từ tháng 6/2007 tiếp tục đến 3/2009). Đây là hai men ESBL lần đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam trên Shigella (Nhu, Vinh và cs. 2010).
Sự xuất hiện của men beta-lactamase CTX-M-15 trên các chủng Shigella tại Việt Nam là một sự kiện đáng quan tâm. Beta-lactamase CTX-M, xuất hiện lần đầu ở Nhật Bản năm 1986. Đến đầu thập niên 2000 các chủng E.coli tiết CTX-M xuất hiện rất nhiều nơi trên thế giới trong các nhiễm trùng tiểu mắc phải trong cộng đồng, nhiều đến nỗi khiến cho người ta phải gọi là “đại dịch CTX-M (CTX-M pandemic)”. CTX-M có hơn 80 loại khác nhau, phân vào 6 nhóm tùy thuộc mức độ giống nhau của các acid amin. Đó là các nhóm CTX-M-1, -2, -8, -9, -25, -45.
Không giống như các CTX-M khác chỉ hiện diện trên một vài quốc gia, CTX-M-15 là một men beta-lactamase, vốn được phát hiện đầu tiên ở Ấn Độ năm 2001, có phân bố rộng khắp trên toàn thế giới. CTX-M-15 hiện diện trên các vi khuẩn E.coli gây bệnh ở cộng đồng và trong bệnh viện. CTX-M-15 ở Châu Âu được lan truyền qua trung gian plasmid IncFII mang gen blaCTX-M-15 (Pitout 2010). Vi khuẩn mang gen blaCTX-M-15 thường kháng cùng lúc nhiều kháng sinh hơn các chủng vi khuẩn không tiết men beta-lactamase CTX-M-15. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về CTX-M-24 cũng như CTX-M-15. Sự phát hiện CTX-M-15 tại Việt Nam, với khả năng lây truyền dễ dàng sang E.coli, và truyền ngược từ E.coli sang Shigella trong phòng thí nghiệm thông qua một plasmid, đây rất có thể là một mối nguy tiềm tàng gây khó khăn cho việc lựa chọn kháng sinh để điều trị các nhiễm trùng nặng do trực khuẩn Gram âm gây ra, không những trong cộng đồng mà còn có thể trong các nhiễm trùng bệnh viện nữa.

Tài liệu tham khảo:

1.  Bộ Y Tế (2009). Tài Liệu Hướng Dẫn Xử Trí Tiêu Chảy Ở Trẻ Em. Hà Nội.
2.  Bodhidatta, L., N. T. Lan, et al. (2007). “Rotavirus disease in young children from Hanoi, Viet Nam.” Pediatr Infect Dis J 26(4): 325-8.
3.  Hien, B. T., F. Scheutz, et al. (2008). “Diarrheagenic Escherichia coli and Shigella strains isolated from children in a hospital case-control study in Hanoi, Viet Nam.” J Clin Microbiol 46(3): 996-1004.
4.  Kelly-Hope, L. A., W. J. Alonso, et al. (2007). “Geographical
distribution and risk factors associated with enteric diseases in Vietnam.” Am J Trop Med Hyg 76(4): 706-12.
5.  Kosek, M., C. Bern, et al. (2003). “The global burden of diarrhoeal disease, as estimated from studies published between 1992 and 2000.” Bull World Health Organ 81(3): 197-204.
6.  Nhu, N. T. K., H. Vinh, et al. (2010). “The Sudden Dominance of blaCTX–M Harbouring Plasmids in Shigella spp. Circulating in Southern Viet Nam.” PLoS Negl Trop Dis 4(6): e702.
7.  Pitout, J. D. (2010). “Infections with extended-spectrum beta-lactamase-producing enterobacteriaceae: changing epidemiology and drug treatment choices.” Drugs 70(3): 313-33.
8.  Vinh, H., S. Baker, et al. (2009). “Rapid emergence of third generation cephalosporin resistant Shigella spp. in Southern Vietnam.” J Med Microbiol 58(Pt 2): 281-3.
9.  Vinh, H., N. T. Nhu, et al. (2009). “A changing picture of shigellosis in southern Vietnam: shifting species dominance, antimicrobial susceptibility and clinical presentation.” BMC Infect Dis 9(Pt 2): 204.
10.         WHO (2005). Guidelines for the control of shigellosis, including epidemics due to Shigella dysenteriae 1. Geneva, World Health Organisation.
11.         WHO (2005). “Shigellosis: disease burden, epidemiology and case management.” Wkly Epidemiol Rec 80(11): 94-9.

Siêu âm hội tụ cường độ cao (hifu): phương tiện ít xâm lấn điều trị ung thư tuyến tiền liệt

            Nguyễn Hoàng Đức*
Bác sĩ chuyên khoa Niệu, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM


Summary
HIGH-INTENSITY FOCUSED ULTRASOUND FOR Local control of prostate cancer
High-intensity focused ultrasound (HIFU) fills a niche role in the treatment of prostate cancer for a select group of patients who are either unsuitable for more invasive interventions (radical prostatectomy, radiotherapy) or unwilling to enter into active surveillance. HIFU is also an alternative treatment for men who do not want to undergo radical prostatectomy or radiation therapy. In some patients with low-risk disease, HIFU is an option in the armamentarium of urologists in the treatment of prostate cancer. HIFU also may play a role as a salvage therapy in men who fail other localized primary treatments

Hiện nay do áp dụng rộng chương trình tầm soát ung thư tuyến tiền liệt nên khoảng 30% số trường hợp ung thư tuyến tiền liệt “còn tiềm ẩn” đã bị chỉ định điều trị quá mức.(1,2)Theo Etzioni,(3) khoảng 10% các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt được phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc và 45% các trường hợp được xạ trị một cách không cần thiết. Tác dụng phụ đáng lo ngại nhất của cắt tuyến tiền liệt tận gốc và xạ trị là tiểu không kiểm soát và rối loạn cương. Với sự phát triển của các kỹ thuật mổ và xạ trị mới, tần suất ảnh hưởng của những tác dụng phụ này đã giảm đáng kể nhưng vẫn là “thảm họa” đối với những BN bị chỉ định điều trị quá mức cần thiết.(3) Do đó, nhu cầu cần một phương tiện điều trị ung thư tuyến tiền liệt ít xâm hại, ít tác dụng phụ là rất bức thiết. Siêu âm hội tụ cường độ cao (High-intensity focused ultrasound – HIFU) là một giải pháp cho vấn đề này.(1)
Năm 1995, HIFU lần đầu tiên được ứng dụng trong lâm sàng điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt.(4) Một năm sau, Gelet(5) đã dùng HIFU điều trị các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt khu trú có độ ác tính thấp. Năm 2007, Viện Quốc gia Sở đắc Lâm sàng của Vương quốc Anh (The National Institute for Clinical Excellence – NICE) đã đánh giá và kết luận có thể sử dụng HIFU điều trị ung thư tuyến tiền liệt.(6) Hội Niệu khoa Pháp (FAU) và Hội Niệu khoa Ý (AURO) hiện nay công nhận HIFU là phương tiện điều trị tiêu chuẩn cho bệnh nhân (BN) ung thư tuyến tiền liệt còn khu trú nếu BN không phù hợp phẫu thuật hoặc xạ trị hoặc khi BN đã thất bại với xạ trị.(6) Đối với Hội Niệu châu Âu (EAU), HIFU được xem là biện pháp điều trị “đang thử nghiệm”.(7) Tương tự, tại Hoa Kỳ, HIFU chưa được Cơ quan Thuốc và Thực phẩm (FDA) phê duyệt áp dụng thường qui trên lâm sàng, ngoại trừ một số nghiên cứu đang tiến hành ở phase III.(1)

Nguyên lý của HIFU
HIFU sử dụng một máy biến năng (transducer) đặt trong trực tràng để sinh ra bức xạ âm thanh không ion hóa, hội tụ vào mô đích qua thấu kính âm thanh, làm nóng mô đích lên trên 80oC gây hoại tử và chết mô ngay lập tức.(8) Phần mô nằm ngoài vùng hội tụ của năng lượng siêu âm hoàn toàn không bị tác động đến.(9) Ngoài tác dụng nhiệt,  HIFU còn tác động lên mô tuyến tiền liệt làm vỡ màng tế bào qua các cơ chế: tạo khoang, microstreaming và lực bức xạ của sóng âm.(10-12)
Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống HIFU điều trị ung thư tuyến tiền liệt: hệ thống Ablatherm (công ty EDAP, Pháp) và hệ thống Sonoblaste 500 (công ty Focus Surgery, Hoa Kỳ).

Ứng dụng của HIFU trong ung thư tuyến tiền liệt
Tiêu chuẩn lựa chọn BN ung thư tuyến tiền liệt để điều trị bằng HIFU hiện chưa xác định cụ thể.(1) Nói chung, HIFU có thể áp dụng điều trị ung thư tuyến tiền liệt còn khu trú (giai đoạn T1c – T2a) và BN không muốn hoặc không thích hợp để điều trị bằng các biện pháp khác.(6,13-15) Để tránh tình trạng bỏ sót sang thương, khi điều trị với HIFU, thể tích tuyến tiền liệt phải dưới 40 mL và kích thước trước–sau của tuyến tiền liệt không vượt quá 45 mm đối với hệ thống Sonablaste hoặc 25 mm đối với hệ thống Ablatherm.(6,14) Một số tác giả tiến hành cắt tuyến tiền liệt ngả niệu đạo (TURP) ngay trước khi HIFU hoặc dùng thuốc ức chế 5α-reductase để làm giảm thể tích tuyến tiền liệt.(1)
PSA cũng là một tiêu chuẩn lựa chọn BN điều trị HIFU. Tuy nhiên, các tác giả hiện nay chưa thống nhất giá trị tối đa của PSA như thế nào là thích hợp điều trị với HIFU.(6) Đa số các nghiên cứu chỉ áp dụng HIFU ở BN có PSA dưới 20 ng/mL.(16,17)
Không nên áp dụng HIFU ở BN có nhiều điểm vôi hóa kích thước lớn >10mm ở tuyến tiền liệt hoặc ở BN bị hẹp ống trực tràng–hậu môn.(1)
Một số tác giả còn sử dụng HIFU để điều trị “làm sạch” cho những trường hợp đã thất bại với điều trị ban đầu bằng phẫu thuật tận gốc hoặc xạ trị.(1)

Kết quả điều trị ung thư tuyến tiền liệt với HIFU
Đa số nghiên cứu cho thấy BN đạt được PSA thấp nhất (PSA nadir) khoảng 3–4 tháng sau điều trị.(6) Bảng 1 cho thấy tỉ lệ BN có kết quả sinh thiết tuyến tiền liệt âm tính ở thời điểm 3 tháng sau điều trị thay đổi từ 80–90% (đối với hệ thống Ablatherm) hoặc 64–87% (đối với hệ thống Sonablaste).
Sau điều trị, PSA đạt tới mức thấp nhất 0,5ng/mL ở 42–84% số BN sử dụng hệ thống Ablatherm. Với hệ thống Sonablaste, 60% BN đạt PSA thấp nhất 0,5ng/mL và 80% BN đạt PSA thấp nhất 0,2ng/mL. Tỉ lệ BN sống không tái phát bệnh (về mặt sinh hóa hoặc mô học) sau 5 năm là 66–78%.(22) Theo Blana và cộng sự, với hệ thống Ablatherm, tỉ lệ sống không tái phát bệnh 6 năm sau HIFU là 59%. Tỉ lệ sống đặc hiệu của ung thư và tỉ lệ sống nói chung của BN 8 năm sau HIFU lần lượt là 98% và 83%.(20)
Sau điều trị, tỉ lệ BN tiểu không kiểm soát từ 8%–25% nếu không cắt nội soi tuyến tiền liệt (TURP) trước thủ thuật và từ 6%–13% nếu có cắt nội soi tuyến tiền liệt trước thủ thuật.(6)Hẹp niệu đạo hoặc hẹp cổ bàng quang xảy ra ở 8% số BN có TURP trước thủ thuật và 30% BN không TURP trước HIFU.(16) Rối loạn cương có thể gặp ở 20% BN điều trị với HIFU, tùy thuộc giai đoạn bệnh và loại máy sử dụng.(19,23)

Bảng 1: Tỉ lệ sinh thiết tuyến tiền iệt âm tính sau điều trị

Tác giả Năm Số BN Tỉ lệ sinh thiết âm tính (%) Loại máy
Gelet(18) và Poissonier(19) 2000
2001
2003
2007
82
102
120
227
78
75
86
86
Ablatherm
Chaussy(16) 2003
2003
2003
402
96
175
87
88
82
Blana(17,20) 2004
2007
2008
146
140
163
93
86
93
Lee(21) 2006 58 83
Uchida(22) 2002
2005
2006
2006
2006
20
72
63
154
100
96
68
87
69
66
Sonablaste
Mearini(23) 2006 163 66

Tài liệu tham khảo
1.Rove KO, Sullivan KF, Crawford ED. High-intensity focused ultrasound: ready for primetime. Urol Clin North Am 2010;37:27-35, Table of Contents.
2.Scattoni V, Zlotta A, Montironi R, Schulman C, Rigatti P, Montorsi F. Extended and saturation prostatic biopsy in the diagnosis and characterisation of prostate cancer: a critical analysis of the literature. Eur Urol 2007;52:1309-22.
3.Etzioni R, Penson DF, Legler JM, và cs. Overdiagnosis due to prostate-specific antigen screening: lessons from U.S. prostate cancer incidence trends. J Natl Cancer Inst 2002;94:981-90.
4.Hou AH, Sullivan KF, Crawford ED. Targeted focal therapy for prostate cancer: a review. Curr Opin Urol 2009;19:283-9.
5.Gelet A, Chapelon JY, Bouvier R, Pangaud C, Lasne Y. Local control of prostate cancer by transrectal high intensity focused ultrasound therapy: preliminary results. J Urol 1999;161:156-62.
6.Rebillard X, Soulie M, Chartier-Kastler E, và cs. High-intensity focused ultrasound in prostate cancer; a systematic literature review of the French Association of Urology. BJU Int 2008;101:1205-13.
7.Heidenreich A, Aus G, Bolla M, và cs. EAU guidelines on prostate cancer. Eur Urol 2008;53:68-80.
8.Dewhirst MW, Viglianti BL, Lora-Michiels M, Hanson M, Hoopes PJ. Basic principles of thermal dosimetry and thermal thresholds for tissue damage from hyperthermia. Int J Hyperthermia 2003;19:267-94.
9.Warwick R, Pond J. Trackless lesions in nervous tissues produced by high intensity focused ultrasound (high-frequency mechanical waves). J Anat 1968;102:387-405.
10. Coussios CC, Farny CH, Haar GT, Roy RA. Role of acoustic cavitation in the delivery and monitoring of cancer treatment by high-intensity focused ultrasound (HIFU). Int J Hyperthermia 2007;23:105-20.
11. Holland CK, Apfel RE. Thresholds for transient cavitation produced by pulsed ultrasound in a controlled nuclei environment. J Acoust Soc Am 1990;88:2059-69.
12. Vaezy S, Shi X, Martin RW, và cs. Real-time visualization of high-intensity focused ultrasound treatment using ultrasound imaging. Ultrasound Med Biol 2001;27:33-42.
13. Acher PL, Hodgson DJ, Murphy DG, Cahill DJ. High-intensity focused ultrasound for treating prostate cancer. BJU Int 2007;99:28-32.
14. Murat FJ, Poissonnier L, Pasticier G, Gelet A. High-intensity focused ultrasound (HIFU) for prostate cancer. Cancer Control 2007;14:244-9.
15. Tsakiris P, Thuroff S, de la Rosette J, Chaussy C. Transrectal high-intensity focused ultrasound devices: a critical appraisal of the available evidence. J Endourol 2008;22:221-9.
16. Chaussy C, Thuroff S. The status of high-intensity focused ultrasound in the treatment of localized prostate cancer and the impact of a combined resection. Curr Urol Rep 2003;4:248-52.
17. Blana A, Walter B, Rogenhofer S, Wieland WF. High-intensity focused ultrasound for the treatment of localized prostate cancer: 5-year experience. Urology 2004;63:297-300.
18. Gelet A, Chapelon J, Murat F. Prostate cancer control with transrectal HIFU in 124 patients: 7-years’ actuarial results. Eur Urol Suppl 2005;5:133.
19. Poissonnier L, Chapelon JY, Rouviere O, và cs. Control of prostate cancer by transrectal HIFU in 227 patients. Eur Urol 2007;51:381-7.
20. Blana A, Murat FJ, Walter B, và cs. First analysis of the long-term results with transrectal HIFU in patients with localised prostate cancer. Eur Urol 2008;53:1194-201.
21. Lee HM, Hong JH, Choi HY. High-intensity focused ultrasound therapy for clinically localized prostate cancer. Prostate Cancer Prostatic Dis 2006;9:439-43.
22. Uchida T, Ohkusa H, Yamashita H, và cs. Five years experience of transrectal high-intensity focused ultrasound using the Sonablate device in the treatment of localized prostate cancer. Int J Urol 2006;13:228-33.
23. Mearini L, D’Urso L, Collura D, và cs. Visually directed transrectal high intensity focused ultrasound for the treatment of prostate cancer: a preliminary report on the Italian experience. J Urol 2009;181:105-11; discussion 11-2.

Download pdf

Chẩn đoán loãng xương: ảnh hưởng của giá trị tham chiếu 

Hồ Phạm Thục Lan* Phạm Ngọc Hoa*** Lại Quốc Thái** Nguyễn Dạ Thảo Uyên* Nguyễn Đình Nguyên**** Nguyễn Văn Tuấn****

*Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch; Khoa Khớp, BV Nhân Dân 115 TP.HCM
**Khoa Khớp, Bệnh viện 115; TP. HồChí Minh
***Bệnh viện ChợRẫy, TP. HồChí Minh, Việt Nam;
****Đại học New South Wales và Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia

 

Tóm tắt
Hiện nay, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương là dựa vào chỉ số T (T-score) của cổ xương đùi đo bằng máy DXA. Máy DXA cung cấp chỉ số T, nhưng không ai biết được nguồn gốc của chỉ số này dựa vào quần thể dân số nào. Theo lý thuyết, chỉ số T là kết quả của 2 thông số: mật độ xương đỉnh (peak bone mineral density – pBMD) và độ lệch chuẩn (SD) của nó. Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào để xác định 2 thông số đó ở người Việt. Do đó, chúng tôi thực hiện công trình nghiên cứu này nhằm hai mục tiêu: thứ nhất là xác định pBMD và SD; và thứ hai là đánh giá sự tương đương giữa chỉ số T của người Việt (gọi tắt là TVN) và chỉ số T do máy cung cấp (TDXA).
Thiết kế nghiên cứu theo mô hình nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study), với 1227 cá nhân (gồm 357 nam và 870 nữ), từ 18 đến 89 tuổi, được chọn ngẫu nhiên trong các quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Mật độ xương (BMD) ở cổ xương đùi, xương sống thắt lưng và toàn thân được đo bằng máy DXA Hologic QDR 4500. Ngoài ra, còn thu thập các dữ liệu về nhân trắc và tiền sử lâm sàng của từng cá nhân. Áp dụng mô hình hồi qui đa thức (polynomial regression) và phương pháp phân tích tái chọn mẫu (resampling method hay còn gọi là bootstraps) để xác định pBMD và SD. Dựa vào 2 thông số này, tính chỉ số TVN cho từng cá nhân. Loãng xương được chẩn đoán khi TVN ≤ -2,5, thiếu xương nếu -2,5 < TVN≤ -1,0, và bình thường nếu TVN >-1,0. Một chẩn đoán như thế cũng được áp dụng cho TDXA. Sau đó, chúng tôi so sánh kết quả của 2 chẩn đoán.
Kết quả cho thấy pBMD ở nam thường cao hơn nữ, nhưng độ tuổi đạt pBMD ở nữ sớm hơn nam. Ở nữ, dựa vào chỉ số TVN ở cổ xương đùi, tỉ lệ loãng xương là 28,6%, nhưng dựa vào TDXA tỉ lệ loãng xương là 43,7%. Ở nam, tỉ lệ loãng xương dựa vào TVN là 10,4%, thấp hơn khoảng 20% khi so với tỉ lệ loãng xương dựa vào TDXA (29,6%). Do đó, số cá nhân được chẩn đoán loãng xương dựa trên chỉ số TDXA có xu hướng cao hơn so với chẩn đoán dựa trên chỉ số TVN, và những khác biệt này chủ yếu tìm thấy ở nhóm thiếu xương. Ở nam, trong số 40 người mà TDXA thuộc nhóm loãng xương, có đến 65% (n = 26) người thật ra là thiếu xương dựa vào tiêu chuẩn của TVN. Tương tự, ở nữ, trong số 177 người mà TDXAxếp vào nhóm loãng xương, có đến 35% (n = 61) thật ra là thiếu xương dựa vào tiêu chuẩn của TVN. Hệ số tương đồng (kappa) giữa 2 chẩn đoán TVN và TDXA là 0,54 cho nữ và 0,41 cho nam.
Những dữ liệu vừa trình bày cho thấy nếu dựa vào chỉ số T do máy DXA cung cấp có thể chẩn đoán nhiều ca loãng xương hơn so với thực tế. Chúng tôi đề nghị sử dụng số liệu của công trình nghiên cứu này làm giá trị tham chiếu cho chẩn đoán loãng xương ở người Việt.Abstract
Currently, the diagnosis of osteoporosis is based on a measurement of femoral neck bone mineral density, which is expressed as a T-score. The T-score is provided by a specific DXA instrument; however, it is not clear the source of reference range that is included in the DXA. Theoretically, T-score is derived from two parameters: peak bone mineral density (pBMD) and standard deviation (SD) of pBMD. In Vietnam, no study has been conducted to estimate these parameters. Therefore, we have undertaken the present study (a) to determine pBMD and SD; and (b) to assess the concordance between T-scores derived from the Vietnamese population (TVN) and T-scores provided by the DXA instrument (TDXA).
The study was designed as a cross-sectional investigation, which involved 1227 individuals (including 357 men and 870 women), aged between 18 and 89 years, who were randomly sampled from various districts within the Ho Chi Minh City. BMD at the femoral neck, lumbar spine and whole body was measured by DXA Hologic QDR 4500. In addition, we collected data concerning anthropometry and clinical history for all individuals. We used several polynomial regression models and bootstraps method to determine pBMD and SD. Based on the two parameters, we computed TVN for each individual in the study. Osteoporosis was defined as TVN ≤ -2.5; osteopenia: -2.5 < TVN ≤ -1.0, and normal BMD: TVN > -1.0. A similar diagnosis was also done based on TDXA. We then compared the concordance in diagnosis between the two methods.
pBMD in men was greater than in women, but the time of reaching pBMD in men was later than women. In women, based on femoral neck TVN, the prevalence of osteoporosis was 28.6%, but when the diagnosis was based on TDXA, the prevalence was 43.7%. In men, the TVN-based prevalence of osteoporosis was 10.4%, which was lower than TDXA-based prevalence (29.6%). Thus, TDXA tended to over-diagnose osteoporosis than did TVN, and the difference was mainly occurred in the osteopenic group. For example, among 40 men diagnosed by TDXA to have osteoporosis, there was 65% (n = 26) men were actually osteopenia by TVN. Similarly, among 177 women who were diagnosed with osteoporosis by TDXA, 35% (n = 61) were actually osteopenia by TVN. The kappa statistic (a measure of concordance between the two diagnoses) was 0.54 for women and 0.41 for men.
These data suggest that the T-scores provided by the Hologic QDR4500 over-diagnosed osteoporosis in Vietnamese men and women. We propose to use the data developed in this study as a diagnostic reference range for the Vietnamese population.Dẫn nhập
Loãng xương được định nghĩa là một bệnh mà sức bền của xương suy giảm và dẫn đến dễ gãy xương.(1) Sức bền của xương có thể đo lường qua mật độ xương (bone mineral density – BMD). Do đó, hiện nay việc chẩn đoán loãng xương dựa vào đo lường BMD.(2) BMD biến chuyển theo độ tuổi: tăng nhanh trong thời kỳ niên thiếu, đạt mức độ đỉnh (peak BMD) vào khoảng độ tuổi 20-30, và sau một thời gian ổn định, BMD bắt đầu suy giảm theo nồng độ estrogen (ở nữ) hay độ tuổi (ở nam).(3) Do đó, BMD của một cá nhân thường được so sánh với mức độ BMD đỉnh, và đơn vị tính toán là độ lệch chuẩn. Nếu gọi BMD của một cá nhân i là BMDi, BMD đỉnh của một quần thể là pBMD, và độ lệch chuẩn của pBMD trong quần thể là SD, chỉ số T được định nghĩa như sau:
 [1]
Theo đề nghị của Tổ chức Y tế Thế giới,(2) nếu T bằng hoặc thấp hơn -2,5 thì được chẩn đoán là loãng xương; nếu T trong khoảng -2,5 và -1,0 là thiếu xương (osteopenia); và nếu T cao hơn -1,0 là bình thường.
Công thức [1] cho thấy hai thông số chính của việc chẩn đoán loãng xương chính là mật độ xương đỉnh pBMD và độ lệch chuẩn SD. Hai thông số này thường phải được xác định trong một quần thể dân số. Bởi vì BMD thường khác biệt giữa các sắc dân (chẳng hạn như người da trắng thường có BMD cao hơn người châu Á), nếu dựa vào thông số BMD của người da trắng, việc chẩn đoán loãng xương cho người châu Á sẽ không chính xác, và tỉ lệ loãng xương ở người châu Á sẽ cao hơn thực tế. Ngay cả ở những sắc dân châu Á, cũng có khác biệt đáng kể giữa người Trung Quốc và Thái Lan, hay Nhật và Trung Quốc và Ấn Độ. Do đó, việc xác định hai thông số này phải được thực hiện cho từng sắc dân.
Hiện nay, việc chẩn đoán loãng xương ở nước ta thường dựa vào chỉ số T của máy DXA. Tuy nhiên, giá trị tham chiếu (reference ranges) và 2 thông số pBMD và SD thì chưa được rõ ràng về xuất xứ. Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào có hệ thống để xác định giá trị tham chiếu và hai thông số vừa đề cập cho người Việt. Do đó, chúng tôi tiến hành một công trình nghiên cứu nhằm vào hai mục tiêu chính: thứ nhất là xác định giá trị tham chiếu, và xác định hai thông số pBMD và SD; thứ hai là so sánh tỉ lệ loãng xương dựa vào chỉ số T của máy và chỉ số T dựa vào thông số của người Việt.

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Đây là một công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình nghiên cứu một thời điểm (còn gọi là “nghiên cứu cắt ngang”), theo đó dữ liệu được thu thập hay đo lường tại một thời điểm duy nhất. Mô hình nghiên cứu này thích hợp với mục tiêu xác định giá trị tham chiếu và ước tính tỉ lệ hiện hành, cũng như phân tích tương quan giữa các yếu tố trong một quần thể. Công trình nghiên cứu này được sự phê chuẩn của Hội đồng Khoa học thuộc Bệnh viện 115 và Đại học Y Phạm Ngọc Thạch, và tất cả các tình nguyện viên ưng thuận tham gia nghiên cứu đều được giải thích về mục đích và qui trình nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm nam và nữ khoẻ mạnh bình thường, tuổi từ 18 trở lên (không giới hạn tuổi tối đa), đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do nghiên cứu ở các độ tuổi từ 18 trở lên, vì một trong những mục tiêu của nghiên cứu là ước tính BMD tối đa (peak BMD) và ước tính tỉ lệ loãng xương trong cộng đồng, và qua y văn chúng tôi biết rằng BMD tối đa có thể đạt ở độ tuổi từ 18 đến 40 và loãng xương hay xảy ra ở người trên 50 tuổi. Để đảm bảo việc phân tích liên tục, chúng tôi quyết định tuyển các đối tượng trên 18 tuổi.
Các đối tượng có các bệnh liên quan đến chuyển hóa xương, hay đang dùng các thuốc có ảnh hưởng đến chuyển hóa calci, hay đang dùng thuốc ngừa thai, hay mắc các bệnh ảnh hưởng đến hấp thu ở đường tiêu hóa không được tham gia vào nghiên cứu. Ngoài ra, các đối tượng có bệnh và nằm tại giường từ 2 tháng trở lên cũng không tham gia vào nghiên cứu.
Ước tính cỡ mẫu dựa vào mục tiêu xác định giá trị tham chiếu. Với giả định rằng BMD tối đa khoảng 1,00 g/cm2 và độ lệch chuẩn là 0,11 g/cm2, nếu chúng tôi muốn ước tính thông số này với sai số chuẩn trên dưới 2% và power 80%, thì cỡ mẫu cần thiết cho từng nhóm là 238 đối tượng. Nhưng vì có hai nhóm (nam và nữ), nên tổng số cỡ mẫu cần thiết là 238 x 2 = 576 đối tượng từ 18 đến 40 tuổi. Đối với mục tiêu ước tính tỉ lệ loãng xương, dựa vào y văn chúng tôi giả định rằng tỉ lệ loãng xương ở người trên 50 tuổi là khoảng 20%, và nếu chấp nhận một sai số chuẩn khoảng 5% thì tổng số cỡ mẫu cần thiết là khoảng 246 đối tượng; nếu tỉ lệ là 10% và sai số chuẩn là 3% thì số cỡ mẫu cần thiết là 384.
Vì đây là một nghiên cứu cắt ngang, và mục tiêu là xác định giá trị tham chiếu cho chẩn đoán, nên tính đại diện cho một quần thể rất quan trọng. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để đạt yêu cầu đại diện là chọn đối tượng một cách ngẫu nhiên. Đối tượng nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ các quận trong Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi liên lạc với cộng đồng địa phương như nhà thờ để có danh sách đối tượng, và chọn ngẫu nhiên những người trên 18 tuổi. Các đối tượng được tư vấn sức khỏe miễn phí.

Dữ liệu thu thập

Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được một bác sĩ hay y sĩ trực tiếp phỏng vấn để thu thập các thông tin lâm sàng và đo lường các chỉ số nhân trắc. Một bộ câu hỏi được thiết kế để thu thập các dữ liệu liên quan đến các yếu tố nhân trắc, tiền sử lâm sàng, lối sống, vận động thể lực, thói quen ăn uống, tiền sử gãy xương, và tiền sử té ngã. Độ tuổi được tính từ ngày sinh đến ngày tham gia vào chương trình nghiên cứu. Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cách lấy trọng lượng (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương. Mỗi đối tượng nghiên cứu còn cung cấp các thông tin về thói quen hút thuốc lá trong quá khứ và hiện tại. Tương tự, thói quen uống bia rượu cũng được thu thập qua hàm lượng và thời gian dùng bia rượu.

Phương pháp đo BMD và chỉ số T

BMD được đo bằng máy Hologic QDR Apex 4500 (Bệnh viện Chợ Rẫy). Máy được chuẩn hóa bằng phanton 30 phút trước mỗi đợt đo. Vị trí đo là xương đùi, kể cả cổ xương đùi, xương sống thắt lưng, và toàn thân. BMD xương đùi được xem là biến phân tích chính, vì BMD cổ xương đùi được đề nghị là vị trí để chẩn đoán loãng xương ở phụ nữ. Máy Hologic QDR còn cung cấp chỉ số T cho xương sống thắt lưng và xương đùi.
Chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn của WHO để chia chỉ số T thành ba nhóm. Nếu một đối tượng trên 50 tuổi có chỉ số T ở cổ xương đùi ≤-2,5 thì được chẩn đoán là loãng xương; nếu T trong khoảng -2,4 và -1,0, chẩn đoán thiếu xương; và nếu T >-1,0, chẩn đoán mật độ xương bình thường. Cần nhấn mạnh rằng, chẩn đoán loãng xương chỉ dựa vào chỉ số T của cổ xương đùi, chứ không phải xương sống thắt lưng hay xương toàn thân.

Xác định giá trị tham chiếu

Hai giá trị tham chiếu được ước tính từ nghiên cứu này là mật độ xương đỉnh và độ lệch chuẩn của mật độ xương. Để ước tính hai giá trị tham chiếu này, BMD của các đối tượng được công thức hóa bằng một hàm số của độ tuổi của đối tượng. Mô hình hồi qui đa thức được chọn để phân tích. Cụ thể hơn, với mô hình này, giá trị kỳ vọng của BMD cho từng đối tượng sẽ được tính bằng công thức: BMD = a + b1a + b2a22222 +b3a3; trong đó α, b1, b2, và b3 là những tham số cần được ước tính từ dữ liệu, và a là độ tuổi. Công thức trên có thể rút gọn thành một đa thức bậc hai, và mô hình tối ưu nhất sẽ được chọn dựa vào chỉ số Akaike Information Criterion (AIC). Từ mô hình tối ưu, mật độ xương tối đa, độ lệch chuẩn, và độ tuổi đạt mật độ đó sẽ được ước tính.
Một trong những khó khăn là ước tính khoảng tin cậy của hai thông số pBMD và SD vì khó tìm được một giải pháp có thể “theo đuổi” (tractable solution). Thay vào đó, chúng tôi áp dụng phương pháp tái chọn mẫu (bootstrap hay resampling) để tìm khoảng tin cậy 95% cho pBMD và SD. Theo phương pháp này, 1000 mẫu, mỗi mẫu có 300 đối tượng, được chọn ngẫu nhiên từ quần thể và mô hình hồi qui đa thức trên được áp dụng để phân tích, và pBMD và SD được ước tính cho từng mẫu. Độ phân bố của các ước lượng này được phân tích một lần nữa để đảm bảo sự phù hợp với ước tính ban đầu. Toàn bộ phân tích sẽ tiến hành bằng ngôn ngữ thống kê R (4) với các lệnh trong thư viện Design.(5)

So sánh chỉ số T và chẩn đoán loãng xương

Dựa vào các thông số trong mô hình hồi qui đa thức, chúng tôi xác định giá trị cho pBMD và SD trong công thức [1] cho xương sống thắt lưng và cổ xương đùi. Qua đó, có thể ước tính chỉ số T cho người Việt Nam như công thức [1]. Do đó, có hai chỉ số T: một do máy DXA cung cấp (ký hiệu là TDXA) và một do chúng tôi phát triển dựa trên số liệu thực nghiệm ở người Việt Nam (ký hiệu TVN). Chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn của WHO để chẩn đoán loãng xương cho từng đối tượng trên 50 tuổi. Theo tiêu chuẩn này, loãng xương được chẩn đoán cho bất cứ đối tượng nào có chỉ số TDXA hay TVN (cổ xương đùi) bằng hay thấp hơn –2,5. Dựa vào TDXA và TVN, phân chia thành bốn nhóm:
1.Loãng xương theo cả hai chỉ số TDXA và TVN;
2.Loãng xương theo chỉ số TDXA, nhưng không loãng xương theo chỉ số TVN;
3.Loãng xương theo chỉ số TVN, nhưng không loãng xương theo chỉ số TDXA;
4.Không loãng xương theo cả hai chỉ số TDXA và TVN.
Dựa vào các kết quả này, chúng tôi phân tích sự tương đồng giữa hai tiêu chuẩn chẩn đoán (TDXA và TVN) bằng kiểm định thống kê kappa.

Kết quả
Tính chung, có 1227 cá nhân (357 nam và 870 nữ) tham gia vào công trình nghiên cứu, và các đặc điểm nhân trắc chính cũng như BMD được trình bày trong Bảng 1. Độ tuổi trung bình ở nam (43,5 tuổi) thấp hơn nữ (48,6; P < 0,0001). Trong số này, có 58,5% nam và 51% nữ tuổi dưới 50. Tính trung bình, như dự kiến, mật độ xương ở nam cao hơn nữ khoảng 12% ở cổ xương đùi và ~7% ở xương sống thắt lưng.

Xác định pBMD

Mối liên hệ giữa BMD và độ tuổi tuân theo hàm số đa thức bậc 3 (Biểu đồ 1), và mối quan hệ này thấy ở cả hai nhóm nam và nữ. Theo hàm số này, BMD tăng dần trong độ tuổi 18 đến 25, ổn định trong độ tuổi 25-35, và giảm dần sau tuổi 35. Các biểu đồ cho thấy ở nam và nữ, tỉ lệ suy giảm BMD rất rõ rệt sau tuổi 50, nhưng mức độ giảm ở nữ cao hơn so với nam. Chẳng hạn, BMD xương sống thắt lưng ở phụ nữ ≥70 tuổi giảm 27% so với độ tuổi 20-30; ở nam, tỉ lệ suy giảm này là ~15%. Tỉ lệ suy giảm BMD cổ xương đùi trong độ tuổi 70+ và 20-30 cũng lớn hơn ở nữ (25%) so với nam (13%).
Dựa vào tham số của mô hình hồi qui đa thức (Bảng 2), chúng tôi ước tính mật độ xương đỉnh (peak BMD hay pBMD) và độ tuổi đạt pBMD cho nam và nữ (Bảng 3). Nói chung, pBMD ở nam thường cao hơn nữ, nhưng sự khác biệt này tùy thuộc vào xương. Chẳng hạn như xương sống thắt lưng, pBMD ở nam (1,05 ± 0,12 g/cm2; trung bình ± độ lệch chuẩn) cao hơn khoảng 9% so với nữ (0,96 ± 0,11 g/cm2). Tương tự, pBMD cổ xương đùi ở nam (0,85 ± 0,13 g/cm2) cao hơn khoảng 6% so với nữ (0,80 ± 0,11 g/cm2). Ở xương đùi, mức khác biệt khoảng 5% (1,00 ± 0,13 so với 0,95 ± 0,12 g/cm2). Kết quả phân tích trình bày trong Bảng 2 còn cho thấy một xu hướng chung là tuổi đạt pBMD ở nữ tương đối sớm hơn nam. Chẳng hạn như tuổi đạt pBMD cổ xương đùi ở nữ là 22 tuổi, sớm hơn 4 năm so với nam (26 tuổi). Tương tự, tuổi đạt pBMD xương sống thắt lưng ở nữ cũng sớm hơn nam (25 so với 27 tuổi).

Tỉ lệ loãng xương và thiếu xương

Dựa vào pBMD và độ lệch chuẩn, chúng tôi tính chỉ số T cho từng cá nhân tuổi trên 50, và chúng tôi gọi chỉ số này là TVN để phân biệt với chỉ số T do máy DXA cung cấp – TDXA. Ở nữ trên 50 tuổi, chỉ số TVN cao hơn TDXA ở cổ xương đùi (-1,84 ± 0,96 so với -2,27 ± 0,96; P < 0,0001) và xương sống thắt lưng (-1,61 ± 1,28 so với -2,39 ± 1,31; P < 0,0001). Ở nam trên 50 tuổi, một xu hướng tương tự cũng được ghi nhận: chỉ số TVN cao hơn TDXA ở cổ xương đùi (-1,50 ± 0,90 so với -2,01 ± 0,86; P < 0,0001) và xương sống thắt lưng (-1.33 ± 1,33 so với -1,81 ± 1,43; P < 0,0001).
Như dự đoán, mặc dù hai chỉ số TVN và TDXA khác nhau, nhưng hệ số tương quan giữa hai chỉ số T rất chặt chẽ (r > 0,98). Phân tích thêm, chúng tôi thấy mối quan hệ giữa hai chỉ số có thể mô tả bằng một mô hình hồi qui tuyến tính phi intercept như sau: đối với cổ xương đùi, TVN =1,177×TDXA cho nữ và TVN = 1,246×TDXA cho nam; đối với xương sống thắt lưng, TVN = 1,298×TDXA cho nữ, và TVN = 1,207×TDXA cho nam. Nói cách khác, ở cổ xương đùi, chỉ số TVN cao hơn TDXA khoảng 0,18 đến 0,25 SD; và ở xương sống thắt lưng, chỉ số TVN cao hơn TDXA khoảng 0,21 đến 0,30 SD.
Dựa vào chỉ số TVN và TDXA chia các đối tượng thành ba nhóm theo tiêu chuẩn của WHO: bình thường, thiếu xương, và loãng xương. So sánh tần suất và tỉ lệ của ba nhóm này được trình bày trong Bảng 4. Ở nữ, dựa vào chỉ số TVN ở cổ xương đùi, tỉ lệ loãng xương là 28,6% (n = 116); nhưng dựa vào TDXA tỉ lệ loãng xương là 43,7% (n = 177). Ở nam, tỉ lệ loãng xương (cổ xương đùi) dựa vào TVN là 10.4% (n = 14), thấp hơn khoảng 20% khi so với tỉ lệ loãng xương dựa vào TDXA (29,6%, n = 40).

Khác biệt trong chẩn đoán loãng xương giữa TVN và TDXA

 

Do đó, số cá nhân được chẩn đoán loãng xương dựa vào chỉ số TDXA có xu hướng cao hơn so với chẩn đoán dựa vào chỉ số TVN, và những khác biệt này chủ yếu xảy ra ở nhóm thiếu xương (Bảng 5). Ở nam, trong số 40 người được TDXA phân nhóm là loãng xương, có đến 65% (n = 26) người thật ra là thiếu xương dựa vào tiêu chuẩn của TVN. Tương tự, ở nữ, trong số 177 người mà TDXA xếp vào nhóm loãng xương, có đến 35% (n = 61) thật ra là thiếu xương dựa vào tiêu chuẩn  của TVN. Hệ  số  tương đồng (kappa) giữa hai chẩn đoán là 0,54 cho nữ và 0,41 cho nam.

Bảng 1. Đặc điểm nhân trắc và mật độ xương của đối tượng nghiên cứu

Chỉ số Nam Nữ Trị số P
Số đối tượng 357 870
Độ tuổi (năm) 43,5 (18,8) 48,6 (16,5) <0,0001
Trọng lượng (kg) 62,1 (9,6) 52,4 (8,6) <0,0001
Chiều cao (cm) 165,1 (6,7) 153,3 (5,5) <0,0001
BMI (kg/m2) 22,7 (3,0) 22,3 (3,5) 0,029
BMD xương sống thắt lưng (g/cm2)a 0,93 (0,14) 0,87 (0,15) <0,0001
BMD cổ xương đùi (g/cm2)b 0,75 (0,15) 0,67 (0,12) <0,0001
BMD xương đùi (g/cm2)c 0,94 (0,15) 0,84 (0,13) <0,0001
BMD xương toàn thân (g/cm2)d 1,06 (0,1) 0,99 (0,11) <0,0001

Chú thích: Số liệu trình bày là số trung bình và độ lệch chuẩn (trong ngoặc). Trị số P rút ra từ kiểm định t so sánh hai nhóm nam và nữ.
alumbar spine BMD; bfemoral neck BMD; ctotal hip BMD; dwhole body BMD.

Bảng 2. Thông số của mô hình đa thức

Thông số Cổ xương đùi Xương đùi Xương sống thắt lưng
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ
b1age 0,01098 (0,00698) 0,01119 (0,0044) 0,0198 (0,0082) 0,0194 (0,0050) 0,0228 (0,0082) 0,0423 (0,0053)
b2age2 -0,00038 (0,00015) -0,00029 (0,00009) -0,0005 (0,0001) -0,0004 (0,0001) -0,00053 (0,00018) -0,0009 (0,0001)
b3age3 0,0000027 (0,000001) 0,0000016 (0,0000006) 0,000003 (0,000001) 0,000002 (0,0000007) 0,000003 (0,000001) 0,000005 (0,0000008)
R2 0,38 0,38 0,18 0,29 0,08 0,39
SEE1 0,11 0,10 0,13 0,11 0,14 0,12

Chú thích: Số liệu trình bày là hệ số và sai số chuẩn (trong ngoặc) của công thức BMD =  α+ b1a + b2a2 +b3a3, trong đó a là độ tuổi.
1SEE: Standard error of estimate (sai số chuẩn của mật độ xương sau khi đã hiệu chỉnh theo độ tuổi).

Bảng 3. Mật độ xương đỉnh (pBMD) và tuổi đạt được mật độ xương đỉnh ở nam và nữ

Giới tính
pBMD (g/cm2)a Nam Nữ
Cổ xương đùi 0,85 (0,13) 0,80 (0,11)
Xương đùi 1,00 (0,13) 0,95 (0,12)
Xương sống thắt lưng 1,05 (0,12) 0,96 (0,11)
Tuổi đạt pBMD (năm)b
Cổ xương đùi 26 (24 – 29) 22 (19 – 24)
Xương đùi 32 (29 – 35) 27 (25 – 30)
Xương sống thắt lưng 27 (25 – 29) 25 (23 – 27)

Chú thích: Số liệu trình bày là a trung bình (mean), và số trong ngoặc là độ lệch chuẩn (SD); btrung bình (mean), và số trong ngoặc là khoảng tin cậy 95%.

Bảng 4. Tần số loãng xương, thiếu xương và bình thường ở nam và nữ

Dựa vào chỉ số TDXA Dựa vào chỉ số TVN
Nam Nữ Nam Nữ
Cổ xương đùi
Bình thường 14 (10.4) 41 (10.1) 43 (31.8) 76 (18.8)
Thiếu xương 81 (60.0) 187 (46.2) 78 (57.8) 213 (52.6)
Loãng xương 40 (29.6) 177 (43.7) 14 (10.4) 116 (28.6)
Tổng số 135 (100.0) 405 (100.0) 135 (100.0) 405 (100.0)
Xương đùi
Bình thường 66 (48.9) 141 (34.8)
Thiếu xương 61 (45.2) 190 (46.9)
Loãng xương 8 (5.9) 74 (18.3)
Tổng số 135 (100.0) 405 (100.0)
Xương cột sống
Bình thường 37 (27.4) 62 (15.3) 129 (31.9) 49 (36.3)
Thiếu xương 56 (41.5) 127 (31.4) 159 (39.3) 62 (45.9)
Loãng xương 42 (31.1) 216 (53.3) 117 (28.9) 24 (17.8)
Tổng số 135 (100.0) 405 (100.0) 135 (100.0) 405 (100.0)

Chú thích: Số liệu trình bày là số đối tượng trong từng nhóm chẩn đoán và phần trăm cho từng giới.

Bảng 5. So sánh kết quả chẩn đoán loãng xương giữa hai chỉ số T (giới hạn đối tượng tuổi ≥50)

Cổ xương đùi Chẩn đoán dựa vào chỉ số TVN
Bình thường Thiếu xương Loãng xương Tổng số
Chẩn đoán dựa vào chỉ số TDXA
Nam
Bình thường 14 (100.0) 0 (0.0) 0 (0.0) 14 (100.0)
Thiếu xương 29 (35.8) 52 (64.2) 0 (0.0) 81 (100.0)
Loãng xương 0 (0.0) 26 (65.0) 14 (35.0) 40 (100.0)
Nữ
Bình thường 40 (97.6) 1 (2.4) 0 (0.0) 41 (100.0)
Thiếu xương 36 (19.4) 151 (80.6) 0 (0.0) 187 (100.0)
Loãng xương 0 (0.0) 61 (34.5) 116 (65.5) 177 (100.0)

Chú thích: Số liệu trình bày là số đối tượng trong từng nhóm chẩn đoán và phần trăm cho từng giới. Kappa cho nam: K= 0.41 (khoảng tin cậy 95%: 0.30 – 0.52); cho nữ: K= 0.54 (khoảng tin cậy 95%: 0.48 – 0.60)

Nữ
Nam
Biểu đồ 1. Mối quan hệ giữa BMD và độ tuổi

Bàn luận
Loãng xương được ghi nhận là một trong những vấn nạn y tế công cộng trong thế kỷ 21, vì tình trạng lão hóa dân số và sự gia tăng liên tục số người cao tuổi trong cộng đồng. Để đánh giá đúng qui mô của vấn đề chúng ta cần một chỉ số lâm sàng để chẩn đoán chính xác thế nào là loãng xương. Vì loãng xương được định nghĩa là sự suy giảm sức bền của xương (bone strength),(1) và sức bền của xương chủ yếu được phản ảnh qua mật độ chất khoáng trong xương (BMD).(6) Tuy nhiên, BMD thay đổi theo độ tuổi, có lẽ một phần lớn phụ thuộc vào estrogen (ở nữ và nam)(7) hay testosterone (ở nam).(8) Do đó, BMD thường được chuẩn hóa bằng chỉ số T như mô tả trong phần dẫn nhập.(2) Để tính chỉ số T chúng ta cần hai thông số chính là mật độ xương đỉnh (hay pBMD) và độ lệch chuẩn SD. Hiện nay, các máy DXA đang sử dụng cho chẩn đoán loãng xương ở Việt Nam cung cấp chỉ số T, nhưng chưa rõ hai thông số để tính chỉ số T trong máy DXA dựa vào quần thể nào. Nếu sử dụng thông số của các quần thể ngoài Việt Nam, có thể kết quả chẩn đoán sẽ không chính xác. Mặt khác, theo chúng tôi biết, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào để làm giá trị tham chiếu đối với ước tính chỉ số T cho máy Hologic. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm cung cấp một giá trị tham chiếu và hai thông số cần thiết cho chẩn đoán loãng xương ở người Việt.
So sánh hai chỉ số T của người Việt Nam và chỉ số T do máy DXA cung cấp, chúng tôi phát hiện một sự khác biệt rất đáng kể. Thật vậy, phân tích tương đồng của hai chỉ số TDXA và TVN cho thấy sự nhất quán thấp hơn 50%! Nếu dựa vào TDXA, có đến 44% nữ trên tuổi 50 được chẩn đoán là loãng xương; nhưng nếu dựa vào TVN, tỉ lệ loãng xương ở nữ là 29%. Do đó, chỉ số TDXA có xu hướng chẩn đoán loãng xương nhiều hơn thực tế. Vấn đề đặt ra là chỉ số nào hợp lý hơn? Trong y văn, chưa ghi nhận được một quần thể nữ nào có tỉ lệ loãng xương lên đến 44%. Một nghiên cứu mới đây ở Hà Nội trên 328 nữ dùng máy DXA Lunar Prodigy và dùng giá trị tham chiếu của người Việt cho thấy ở nữ trên 50 tuổi, tỉ lệ loãng xương là 26%(9). Một nghiên cứu khác ở phụ nữ Việt Nam sau mãn kinh sống ở Mỹ cho thấy tỉ lệ loãng xương là 37% (10). Nghiên cứu ở Thái Lan cũng cho thấy tỉ lệ loãng xương ở nữ sau mãn kinh là 29%.(11) Ở các sắc dân da trắng, tỉ lệ loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh được ghi nhận là 20% (Úc)(12) và 21% (Mỹ).(13) Nói tóm lại, các nghiên cứu ở người Việt Nam và Á châu cho thấy tỉ lệ loãng xương rất tương đương với tỉ lệ ghi nhận qua nghiên cứu của chúng tôi.
Nghiên cứu về loãng xương ở nam giới còn rất hiếm.(14) Nghiên cứu này là một trong những nghiên cứu qui mô về loãng xương ở nam giới châu Á. Qua nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận ở nam trên 50 tuổi, khoảng 1 phần 10 là loãng xương (tuy nhiên, nếu dựa vào chỉ số T của máy DXA thì tỉ lệ này là 30%). Nói cách khác, sự chênh lệch giữa hai chỉ số ảnh hưởng đến chẩn đoán loãng xương ở nam giới cao hơn nữ giới. Tỉ lệ 10% trong nghiên cứu của chúng tôi rất khó so sánh với các nước châu Á vì thiếu dữ liệu so sánh. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các nước phương Tây,(15) tỉ lệ loãng xương ở nam luôn thấp hơn nữ; do đó xu hướng khác biệt về tỉ lệ loãng xương giữa nam và nữ trong nghiên cứu này cũng phù hợp với xu hướng ghi nhận trong y văn.
Tại sao có sự khác biệt giữa chỉ số TVN và TDXA? Lý do hiển nhiên nhất là do khác biệt về pBMD và SD. Thông thường thông số SD rất ít dao động giữa các quần thể, cho nên có lẽ lý do chính là pBMD được sử dụng trong máy DXA cao hơn pBMD thực tế ở người Việt Nam. Thật vậy, giả dụ rằng SD của BMD ở cổ xương đùi là 0,12, và từ TDXA chúng tôi có thể ước tính pBMD cho nam và nữ lần lượt là 0,90 và 0,87 g/cm2. Trong khi đó, pBMD thực tế qua nghiên cứu của chúng tôi là 0,85 và 0,80 g/cm2. Rất có thể pBMD đang sử dụng trong máy DXA xuất phát từ một quần thể khác, không phải từ người Việt Nam. Chúng ta biết rằng có sự khác biệt đáng kể về pBMD giữa các sắc dân. Chẳng hạn như người da đen có BMD cao hơn người da trắng, và người da trắng có BMD cao hơn người châu Á. Nhưng ngay cả trong quần thể người châu Á cũng có sự khác biệt BMD giữa các sắc dân.(11, 16)
Trong nghiên cứu này, mối quan hệ giữa BMD và độ tuổi tuân theo hàm số đa thức bậc 3. Mối quan hệ này cũng được ghi nhận trong một nghiên cứu trước đây ở Hà Nội. Theo hàm số này, thấy phụ nữ Việt Nam đạt pBMD ở độ tuổi 27-29, tức muộn hơn so với phụ nữ Âu Mỹ da trắng (20-25 tuổi). Khó có thể xác định nguyên nhân cho sự khác biệt này, nhưng một xu hướng chung đã được ghi nhận trong y văn là phụ nữ Á châu thường có kinh trễ hơn so với người da trắng (13 tuổi so với 12 tuổi). Các yếu tố dinh dưỡng và nồng độ estrogen cũng như các hormone giới tính khác có thể là nguyên nhân của sự khác biệt này.(7)
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy khi chỉ số T giảm thấp hơn -2,5, nguy cơ gãy xương tăng cao.(17-19)  Do đó, những kết quả này cho thấy có đến gần 1/3 số phụ nữ và 1/10 số nam giới trên tuổi 50 có nguy cơ gãy xương cao. Hiện nay, tỉ lệ người cao tuổi (trên 50) trong dân số Việt Nam là khoảng 11% (nam) và 15% (nữ), nhưng sẽ gia tăng lên 18% (nam) và 20% (nữ) vào năm 2020. Qua tỉ lệ loãng xương của nghiên cứu này, chúng tôi ước tính rằng hiện nay có khoảng 2 triệu phụ nữ và 0,5 triệu nam giới trên 50 tuổi đang ở trong tình trạng loãng xương. Vì loãng xương và gãy xương tăng theo độ tuổi, cho nên kết quả nghiên cứu này còn có ý nghĩa rằng trong tương lai, loãng xương và gãy xương là một gánh nặng cho hệ thống y tế toàn quốc.
Kết quả của nghiên cứu này cần phải diễn giải trong khuôn khổ của một số ưu điểm và nhược điểm. Đây là một công trình nghiên cứu loãng xương lớn nhất ở Việt Nam và một trong những nghiên cứu qui mô nhất trong vùng Á châu, bao gồm cả nam và nữ, đảm bảo đầy đủ số liệu cho việc phân tích xác định các thông số cần thiết cho chẩn đoán loãng xương. Các đối tượng nam và nữ được chọn một cách ngẫu nhiên trong cộng đồng qua những tiêu chuẩn lâm sàng, do đó kết quả mang tính giá trị ngoại tại (external validity) cao. Một ưu điểm khác của nghiên cứu là sử dụng công nghệ DXA, một công nghệ chuẩn để đo BMD và chẩn đoán loãng xương. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cũng có một số nhược điểm. Trước hết, đây là một nghiên cứu cắt ngang, cho nên việc xác định pBMD và độ tuổi đạt pBMD có thể chịu sự chi phối của các yếu tố ngẫu nhiên không thể kiểm soát được trong nghiên cứu quan sát. Một cách lý tưởng để xác định các thông số pBMD và SD là qua một nghiên cứu theo thời gian, theo đó các đối tượng được theo dõi từ 5 đến 30 năm. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, một công trình nghiên cứu như thế rất khó thực hiện (ngay cả trên thế giới chưa nhóm nào làm được), và do đó, mô hình nghiên cứu cắt ngang vẫn là một mô hình thực tế nhất. Nghiên cứu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà dinh dưỡng và lối sống có thể khác biệt so với cư dân nông thôn, nên có thể xem những kết quả này chưa đại diện cho quần thể ở nông thôn.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu này cho thấy việc chẩn đoán loãng xương bằng chỉ số T của máy DXA Hologic QDR4500 có thể gây nên tình trạng chẩn đoán thiếu chính xác, nhiều ca loãng xương hơn thực tế, và dẫn đến tình trạng điều trị không cần thiết. Để khắc phục vấn đề, chúng tôi đề nghị sử dụng giá trị tham chiếu ở người Việt qua chỉ số TVN của nghiên cứu này. Kết quả của chúng tôi còn cho thấy có khoảng 30% nữ và 10% nam trên 50 tuổi bị loãng xương, tức là tương đương hay cao hơn so với người Âu Mỹ, và những tỉ lệ này cho thấy loãng xương là một vấn đề y tế lớn cần được quan tâm ở nước ta.

Cảm tạ
Công trình nghiên cứu này được sự hỗ trợ một phần từ chương trình hợp tác Viện – Trường trong khuôn khổ của Ủy hội Đại học Bỉ. Chúng tôi chân thành cám ơn Linh mục Phạm Bá Lãm, Linh mục Vũ Minh Danh, các ông Phạm Doãn Phong, Lương Thành Phát, Nguyễn Công Phú, và Tiền Ngọc Tuấn đã tích cực hỗ trợ cho chương trình nghiên cứu của chúng tôi, kể cả khuyến khích các giáo dân tham gia vào công trình nghiên cứu. Chúng tôi cũng chân thành ghi nhận sự giúp đỡ quý báu của Bs Lê Thị Ngọc Linh, Bs Phạm Ngọc Khánh thuộc Bệnh viện Nhân dân 115; và các sinh viên thuộc Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch: Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Hải Đăng, Võ Thị Thúy An, Nguyễn Thị Thanh Thảo, Mai Duy Linh, Nguyễn Vũ Đạt, Diêm Đăng Khoa, và Trần Hồng Bảo đã hết lòng giúp đỡ trong việc hướng dẫn và phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo

1. (2001) Osteoporosis prevention, diagnosis, and therapy. JAMA 285:785795.

2. Kanis JA (2002) Diagnosis of osteoporosis and assessment of fracture risk. Lancet 359:1929-1936.

3. Nguyen TV, Maynard LM, Towne B, Roche AF, Wisemandle W, Li J, Guo SS, Chumlea WC, Siervogel RM (2001) Sex differences in bone mass acquisition during growth: the Fels Longitudinal Study. J Clin Densitom 4:147-157.

4. Nguyen TV (2006) Phân tích số liệu và tạo biểu đồ bằng R. Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật TPHCM.

5. R, Development, Core, Team (2008) R: A Language and Environment for Statistical Computing. URL:http://wwwR-projectorg Vienna, Austria.

6. Ammann P, Rizzoli R (2003) Bone strength and its determinants. Osteoporos Int 14 Suppl 3:S13-18.

7. Riggs BL, Khosla S, Melton LJ, 3rd (1998) A unitary model for involutional osteoporosis: estrogen deficiency causes both type I and type II osteoporosis in postmenopausal women and contributes to bone loss in aging men. J Bone Miner Res 13:763-773.

8. Meier C, Nguyen TV, Handelsman DJ, Schindler C, Kushnir MM, Rockwood AL, Meikle AW, Center JR, Eisman JA, Seibel MJ (2008) Endogenous sex hormones and incident fracture risk in older men: the Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study. Arch Intern Med 168:47-54.

9. Nguyen HTT, Schoultz B, Pham DMT, Nguyen DB, Le QH, Nguyen DV, Hirschberg AL, Nguyen TV (2009) Peak bone mineral density in Vietnamese women. Arch Osteoporos 4:9-15.

10. Marquez MA, Melton LJ, 3rd, Muhs JM, Crowson CS, Tosomeen A, O’Connor MK, O’Fallon WM, Riggs BL (2001) Bone density in an immigrant population from Southeast Asia. Osteoporos Int 12:595-604.

11. Limpaphayom KK, Taechakraichana N, Jaisamrarn U, Bunyavejchevin S, Chaikittisilpa S, Poshyachinda M, Taechamahachai C, Havanond P, Onthuam Y, Lumbiganon P, Kamolratanakul P (2001) Prevalence of osteopenia and osteoporosis in Thai women. Menopause 8:65-69.

12. Nguyen TV, Center JR, Eisman JA (2000) Osteoporosis in elderly men and women: effects of dietary calcium, physical activity, and body mass index. J Bone Miner Res 15:322-331.

13. Looker AC, Orwoll ES, Johnston CC, Jr., Lindsay RL, Wahner HW, Dunn WL, Calvo MS, Harris TB, Heyse SP (1997) Prevalence of low femoral bone density in older U.S. adults from NHANES III. J Bone Miner Res 12:1761-1768.

14. Nguyen TV, Eisman JA, Kelly PJ, Sambrook PN (1996) Risk factors for osteoporotic fractures in elderly men. Am J Epidemiol 144:255-263.

15. Nguyen ND, Ahlborg HG, Center JR, Eisman JA, Nguyen TV (2007) Residual lifetime risk of fractures in women and men. J Bone Miner Res 22:781-788.

16. Lynn HS, Lau EM, Au B, Leung PC (2005) Bone mineral density reference norms for Hong Kong Chinese. Osteoporos Int 16:1663-1668.

17. Kung AW, Lee KK (2006) Knowledge of vitamin D and perceptions and attitudes toward sunlight among Chinese middle-aged and elderly women: a population survey in Hong Kong. BMC Public Health 6:226.

18. Marshall D, Johnell O, Wedel H (1996) Meta-analysis of how well measures of bone mineral density predict occurrence of osteoporotic fractures. BMJ 312:1254-1259.

19. Nguyen ND, Pongchaiyakul C, Center JR, Eisman JA, Nguyen TV (2005) Identification of high-risk individuals for hip fracture: a 14-year prospective study. J Bone Miner Res 20:1921-1928.