Thực tế tại các bệnh viện, không ít bệnh nhân (BN) điều trị nội trú bị tăng đường huyết (ĐH) và khi xuất viện ĐH vẫn còn cao. Trước đây nhiều năm, y học thực hành luôn hướng đến kiểm soát đường huyết chặt chẽ, thậm chí quá tập trung vào đường huyết. Hiện tại nhiều khuyến cáo đã nhấn mạnh không nên cứng ngắt trong kiểm soát đường huyết do tai biến hạ đường huyết, dẫn đến gia tăng các biến chứng tim mạch, tử vong(1-3) và thời gian nằm viện.
Author Archives: admin
Liệu có thể sử dụng fsh để tiên đoán sự sinh tinh?
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ FSH huyết thanh và kết quả sinh thiết tinh hoàn nhằm sử dụng nồng độ FSH để tiên lượng khả năng sinh tinh mà không cần phải sinh thiết tinh hoàn.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả. Bệnh nhân được chẩn đoán vô sinh do vô tinh (do tắc ống dẫn tinh hay do tinh hoàn không sinh tinh) được phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân từ ngày 01/05/2010 đến 31/10/2010. Nồng độ FSH huyết thanh và kết quả sinh thiết tinh hoàn của tất cả bệnh nhận được ghi nhận và phân tích mối liên quan.
Kết quả: 206 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. 107 bệnh nhân với sinh tinh bình thường có FSH là 5,74 ± 4,59 mIU/ml. 14 bệnh nhân với sinh tinh kém có FSH là 8,73 ± 5,08 mIU/ml. 34 bệnh nhân với hội chứng sinh tinh nửa chừng có FSH là 14,36 ± 9,21 mIU/ml. 40 bệnh nhân với hội chứng toàn tế bào Sertoli có FSH là 18,41 ± 8,11 mIU/ml. 11 bệnh nhân với xơ hóa ống sinh tinh có FSH là 35,59 ± 14,96 mIU/ml.
Kết luận: Giữa nồng độ FSH và kết quả sinh thiết tinh hoàn có liên quan với nhau một cách tương đối. Nồng độ FSH > 35 mIU/ml, tinh hoàn bị xơ hóa hoàn toàn, nên không cần sinh thiết tinh hoàn. Nồng độ FSH trong khoảng 6 – 35 mIU/ml thì để tiên lượng một cách chính xác mức độ sinh tinh cần sinh thiết tinh hoàn.
Summary
CAN FSH BE USED TO PREDICT SPERMATOGENESIS ?
Purpose: To analyze the correlation between FSH serum levels and testicular cytology findings in order to use FSH level as a predictor of spermatogenesis without testicular biopsy.
Patients and methods: A descriptive prospective study. Patients were adult males with azoospermia (obstructive or non-obstructive) admitted at Binh Dan hospital from May 1st to October 31st 2010). Serum FSH levels and testicular biopsy findings of all patients were recorded and the correlation between them was analyzed.
Results: Among 206 patients enrolled in the study, the mean FSH levels of subjects with normal spermatogenesis (n=107); subjects with hypospermatogenesis (n=14); and subjects with maturation arrest (n=34) were 5.74 ± 4.59; 8.73 ± 5.08; and 14.36 ± 9.21 mIU/ml, respectively. The mean FSH levels of patients with Sertoli-cell-only syndrome (n=40) and of patients with seminiferous tubular sclerosis (n=11) were 18.41 ± 8.11 and 35.59 ± 14.96 mIU/ml, respectively.
Conclusions: There was a loose correlation between FSH levels and testicular biopsy findings in infertile male patients. Biopsy is unnecessary in cases of FSH levels > 35mIU/ml, because of the seminiferous tubular sclerosis. For FSH values between 6 and 35 mIU/ml, biopsy must be done to determine the spermatogenesis.
Keywords: azoospermia, FSH, testicular biopsy.
**Đại học Bách Khoa TP. HồChí Minh
Hoạt hóa noãn bằng calcium ionophore sau tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
Hà Thanh Quế* Phạm Thanh Xuân¥ Hồ Mạnh Tường*,¥
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng phương pháp hoạt hóa noãn bằng calcium ionophore lên các chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) do tinh trùng ít, yếu và dị dạng (OAT) nặng.
Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng.
Phương pháp: Noãn từ mỗi trường hợp điều trị ICSI được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm 1 được thực hiện hỗ trợ hoạt hóa noãn (AOA) bằng calcium ionophore 10 μM sau khi ICSI và nhóm 2 là nhóm đối chứng (không thực hiện AOA sau ICSI). Tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ thoái hóa, tỉ lệ phân chia tạo phôi của noãn sau thụ tinh và tỉ lệ tạo phôi có chất lượng khá/tốt được so sánh giữa hai nhóm.
Kết quả: 1.588 noãn từ 101 chu kỳ điều trị ICSI do OAT nặng từ tháng 6/2010 đến tháng 7/2011 tại IVFAS (Bệnh viện An Sinh). Nhóm 1 (ICSI + AOA) có 802 noãn, nhóm 2 (ICSI) có 786 noãn. Có sự gia tăng đáng kể về tỉ lệ thụ tinh ở nhóm 1 so với nhóm 2 (80,8% so với 74,3%, P<0,002). Các tỉ lệ khác không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm.
Kết luận: Phương pháp AOA có thể là tăng tỉ lệ thụ tinh của phương pháp ISCI đối với các trường hợp OAT nặng.
Abstract
Oocyte Activation with Calcium Ionophore after Intracytoplasmic Sperm Injection
Objective: To evaluate the efficiency of artificial oocyte activation (AOA) with calcium ionophore on intracytoplasmic sperm injection (ICSI) cycles with severe oligo-terato-asthenozoospermia (OAT).
Design: Randomized control trial (RCT)
Methods: Oocytes of each ICSI treatment cycle were randomly assigned to apply either AOA with calcium ionophore 10μM after ICSI (group 1) or ICSI without AOA (group 2) as controls. The rates of fertilization, degeneration, cleaving and good embryo were compared between two groups.
Results: 1,588 oocytes from 101 cycles with severe OAT were treated with ICSI between June 2010 and July 2011 at IVFAS (An Sinh Hospital). Numbers of oocytes assigned into group 1 (ICSI + AOA) and group 2 (ICSI) were 802 and 786, respectively. There is a significant increase in the fertilization rate in group 1 compared with group 2 (80.8% vs 74.3%, P<0.002). The other rates were not significantly different between two groups.
Conclusion: AOA can improve fertilization rate in ICSI treatment with severe OAT.
*IVFAS, Bệnh viện An Sinh, TpHCM
¥Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe sinh sản, Khoa Y, Đại học Quốc gia Tp.HCM
Những tiến bộ mới trong điều trị tai biến mạch máu não và đơn vị đột quỵ
Trong ba thập kỷ qua đã có nhiều tiến bộ trong các lĩnh vực có liên quan đến đột quỵ
1. Nhận thức về dịch tễ
Dịch tễ: (2010) theo cơ quan thống kê về bệnh tật của Hoa Kỳ, ĐQ đứng hàng thứ ba về nguyên nhân tử vong (143.579 ca), dẫn đầu về nguyên nhân gây nên tàn tật. Mỗi năm có 795.000 ca, ba phần tư các trường hợp gặp ở người trên 65 tuổi, cứ thêm 10 tuổi nguy cơ tăng gấp đôi, cứ 40 giây có một bệnh nhân ĐQ.
Tại Việt Nam với 80 triệu dân: số mới mắc khoảng 200.000 người/năm, số người bị ĐQ đang sống là 486.000 người và tử vong 104.800 người/ năm.
Giá trị chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới siêu âm trong khối u vú dạng đặc tại bệnh viện hùng vương
Tóm tắt
Một nghiên cứu thử nghiệm chẩn đoán được thực hiện tại Bệnh Viện Hùng Vương với mục đích lượng giá phương pháp chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNAC) dưới siêu âm trong u vú dạng đặc.
Kết quả: Trong số 201 trường hợp tham gia nghiên cứu có 38 trường hợp (chiếm 18,9%) bị ung thư vú với đa số là ung thư ống tuyến vú. Kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới siêu âm trong u vú dạng đặc có độ nhạy 97,36%, độ đặc hiệu 100%, giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên đoán âm 99,39%, âm tính giả 0,61%; biến chứng kỹ thuật là tối thiểu.
Kết luận: Chọc hút tế bào vú bằng kim nhỏ dưới sự hướng dẫn siêu âm là một phương pháp nhanh, rẻ, ít thương tổn và chính xác, có giá trị cao.
Từ khóa: chọc hút tế bào vú bằng kim nhỏ, FNAC, siêu âm vú.
Summary
INVESTIGATION ON THE EFFECTIVENESS OF THE ULTRASOUND-GUIDED FINE NEEDLE ASPIRATION CYTOLOGY AS A DIAGNOSTIC TEST FOR SOLID BREAST TUMORS
A diagnostic test study was conducted to evaluate the effectiveness of ultrasound-guided fine needle aspiration cytology – at Hung Vuong Hospital – in the diagnosis of solid breast tumors.
Results: Among 201 enrolled women, malignancy was diagnosed in 38 (18,9%) patients on fine needle aspiration cytology (FNAC), most of which were breast ductal carcinomas. Overall sensitivity, specificity, positive predictive & negative predictive values and false-negativity of FNAC in the present study were 97.36%, 100%, 100%, 99.39%, and 0.61%, respectively. Complications of the procedure were minimal.
Conclusion: Ultrasound-guided FNAC is a safe, cheap, reliable and less traumatic diagnostic tool with high efficiency.
Đánh giá kết quả bước đầu điều trị u não bằng xạ phẫu dao gamma quay tại trung tâm ung thư, bệnh viện nhân dân 115
Tóm tắt
Mục đích: Đánh giá kết quả bước đầu điều trị bệnh lý u não bằng phương pháp trị xạ phẫu dao gamma quay tại Bệnh viện Nhân Dân 115, TP.HCM.
Phương pháp: Từ tháng 2 đến tháng 7/2011, nghiên cứu 20 bệnh nhân (BN) u não được chẩn đoán qua lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh; có kích thước nhỏ hơn 5cm nhập khoa Ung Bướu BV Nhân Dân 115.
Kết quả: Dựa vào phân loại u não năm 2006; trong 20 BN: 10 BN u màng não, 2 BN u dây VIII, 1 BN u dây V (epidermoid), 1 BN u sao bào, 5 BN u tuyến yên và 1 BN u bao sợi thần kinh khác. Xạ phẫu dao Gamma là chọn lựa điều trị đầu tiên trong 6 BN và điều trị sau phẫu thuật cho 14 BN. Các loại u sao bào chúng tôi kết hợp với xạ trị để đạt kết quả tốt cho BN. Tuổi trung bình là 44,7 tuổi (từ 18 – 82).
Liều điều trị trung bình là 15,45 Gy (từ 8 – 22 Gy). Theo dõi 6 tháng được 3 trường hợp và 17 trường hợp theo dõi 3 tháng. Có 2 trường hợp đáp ứng sau 3 tháng, và 1 sau 6 tháng. Triệu chứng đau đầu giảm 50% sau 1 tháng.
Kết luận: Kết quả bước đầu cho thấy xạ phẫu dao gamma quay an toàn và hiệu quả cho BN u não. Tuy nhiên, cần có thời gian theo dõi lâu hơn để đánh giá tính hiệu quả và các tác dụng phụ do tia xạ.
Abstract
ROTATING GAMMA KNIFE NEUROSURGERY AT NHAN DAN 115 HOSPITAL: EARLY outcomes
Objectives: To evaluate the short-term efficacy of rotating gamma knife neurosurgery in patients with brain tumors treated at the Nhan Dan 115 Hospital, Ho Chi Minh City.
Methods: Between February and July 2011, 20 patients with brain tumors, of which the size was less than 5 cm in diameter, were evaluated by clinical examination, neuro-imaging and histological studies; and were treated with stereotactic radiosurgery at Oncology Department of the Nhan Dan 115 Hospital.
Results: Studied tumors included 10 meningiomas, 2 ascoutic schwannomas, 1 trigeminal epidermoid tumors, 1 glial tumor, 5 pituitary adenomas, 1 other schwannoma. Gamma knife radiosurgery was used as a first-choice treatment for 6 and as postoperative adjuvant therapy for 14 patients with brain tumors. For some glial tumors, prior radiotherapy was combined with radiosurgery. The mean age of patients was 44 (18-82).
The median marginal dose was 15.45 Gy (range 8-22). Three cases were followed up for 6 months and 17 for 3 months. Responses were noted in two cases at 3 months and one at 6 months.
Conclusions: In the short-term, gamma knife radiosurgery is a safe and effective therapy in selected patients with brain tumors. However longer follow-up is needed for more complete evaluation of treatment efficacy and toxicity.
Đo lường hiệu quả điều trị: Nguy cơ tuyệt đối và số bệnh nhân cần điều trị
Tóm tắt
Kết quả nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial) thường được trình bày qua các chỉ số tương đối như tỉ số nguy cơ (relative risk – RR). Nhưng RR chỉ có thể áp dụng cho một quần thể hay một nhóm người, chứ không thể áp dụng cho một cá nhân. Những thước đo về hiệu quả của điều trị có thể áp dụng cho từng cá nhân bệnh nhân là những chỉ số mang tính nguy cơ tuyệt đối (absolute risk – AR) và số bệnh nhân cần điều trị (number needed to treat – NNT). Những “thước đo” này có thể sử dụng kết hợp với các mô hình tiên lượng để có thể nhận ra những cá nhân có nguy cơ cao và điều trị thích hợp. Bài này sẽ giới thiệu chỉ số NNT như là một thước đo hiệu quả của một thuật điều trị và cách diễn giải NNT trong bối cảnh lâm sàng.
Tổng quan về tình hình đề kháng kháng sinh của h. Pylori trên thế giới (2)
Giới thiệu
Sự đề kháng kháng sinh của H. pylori là yếu tố chính anh hưởng đến hiệu quả của các phác đồ điều trị hiện dùng. Tỉ lệ lưu hành của vi khuẩn kháng thuốc thay đổi tùy theo từng vùng địa lý khác nhau, và tương quan với sự sử dụng kháng sinh trong dân số chung. Ví dụ sự tiêu thụ clarithromycin và tỉ lệ đề kháng kháng sinh này tăng tương tự nhau (gấp 4 lần) ở Nhật Bản trong khoảng thời gian từ 1993 đến 2000 (Perez Aldana Lvà cs, 2002). Trái lại, sự sử dụng macrolide thận trọng ở các nước Bắc Âu trong những thập niên qua kết hợp với một tỉ lệ H. pylori kháng clarithromycin thấp hơn so với các nước Nam Âu, nơi mà clarithromycin được sử dụng rộng rãi (Debets-Ossenkopp YJ và cs, 1999; Cabrita J và cs, 2000; Pilotto A và cs, 2000). Tài liệu hướng dẫn châu Âu hiện nay về điều trị H. pylori gợi ý rằng trị liệu đầu tay phải được điều chỉnh cho thích hợp với sự đề kháng clarithromycin và metronidazole. Thật vậy, một liệu pháp ba thuốc kéo dài 14 ngày được khuyên dùng ở những nơi mà tỉ lệ kháng clarithromycin >15-20%, ưu tiên kết hợp với amoxicillin nếu tỉ lệ kháng metronidazole tiên phát >40% (Malfertheiner P và cs, 2007). Trên cơ sở này, việc theo dõi tỉ lệ đề kháng kháng sinh tỏ ra có ý nghĩa đối với việc điều trị nhiễm H. pylori trong thực hành lâm sàng. Dưới đây là một tổng hợp dữ liệu về tình hình đề kháng của H. pylori với nhiều kháng sinh khác nhau ở những nước khác nhau.
Bệnh tay chân miệng hiện nay (1)
Bệnh Tay Chân Miệng (TCM) là một bệnh phát ban có đặc tính như sốt cao, nổi bóng nước ở tay, chân, mông, và miệng. Các khảo sát về virus cho thấy tác nhân chính là enterovirus EV71 và Coxsackie virus A16 thuộc nhóm Enterovirus. Có 5 loài enterovirus gây bệnh ở người gồm virus bại liệt (poliovirus) và human enterovirus (HEV) A, B, C, D. Virus EV71 và CVA 16 thuộc nhóm A.
Do EV71 gây nhiều bệnh cảnh nặng như biến chứng thần kinh nên các khảo cứu tập trung nhiều trên virus này.
Giới thiệu phương pháp phân tích bayes (phần 2)
Phần 2: Diễn giải kết quả nghiên cứu
Nguyễn Văn Tuấn*
Tóm tắt
Kết quả nghiên cứu lâm sàng thường được tóm lược bằng trị số P và khoảng tin cậy 95%. Nhưng trị số P rất dễ dẫn đến hiểu lầm và kết luận sai. Trị số P cũng không phản ảnh được tầm ảnh hưởng của can thiệp. Một kết quả với trị số P < 0,05 thường được xem là có ý nghĩa thống kê, nhưng kết quả đó không nói lên có ý nghĩa lâm sàng hay không. Trong vài năm gần đây, xu hướng ứng dụng phương pháp Bayes trong việc diễn giải kết quả nghiên cứu lâm sàng. Bài viết này điểm qua triết lý đằng sau kiểm định thống kê, kiểm định giả thuyết, và trình bày qui trình phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu qua phương pháp Bayes với hi vọng sẽ giúp cho bác sĩ và nhà nghiên cứu có một cách diễn giải gần với thực tế lâm sàng hơn là phương pháp cổ điển.
Summary
Resuts of clinical research are usually presented in terms of P values and confidence intervals. However, P values are often misinterpreted and could lead to wrong conclusion. Pvalues do not tell us whether an effect size is clinically relevant. A result with P < 0.05 is understood as “statistically significant”, but such a result may not have clinical significance. In recent years, the Bayesian methodology has been proposed as a calculus of evidence and has increasingly been adopted in clinical research. In this article, I briefly review the Fisher’s method significance testing, Neyman-Pearson’s method of hypothesis testing, and then present procedures of Bayesian inference via two examples of a clinical trial results. I hope that the ideas and methods presented here will help clinicians and researchers alike to have a better interpretation of results from clinical research.