








KHPTO – Trong 5 năm qua (2014 – 2018), Hội Y Học không ngừng phát triển, đã kết nạp thêm 8 hội chuyên khoa với 919 hội viên, đưa số hội chuyên khoa từ 60 hội với 23.565 hội viên lên 70 hội với 25.614 hội viên, chiếm 1/3 số lượng hội viên thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật TP.HCM. Hội đã thu hút tập hợp được đông đảo lực lượng trí thức y khoa, góp phần vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân tại TP.HCM và khu vực phía Nam.
Nhờ có nhiều chính sách để thu hút và phát triển hội viên mới, nay hội có đến 70 hội chuyên khoa. Các hội luôn tìm những phương thức hoạt động phong phú và có hiệu quả. Các loại hình sinh hoạt của hội không chỉ giúp các hội viên trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao kiến thức; mà còn tạo sự gắn kết giữa các hội và hội viên, giữa các hội viên với nhau, thu hút và tạo ra sinh khí trong hoạt động khoa học của các hội chuyên khoa. Có một số hội tổ chức đến trên 20 lần/năm, như hội tim mạch, hô hấp, đái tháo đường – nội tiết, phụ sản…
Hội phát hành nhiều kênh truyền tải thông tin y học và phổ biến kiến thức y khoa như tạp chí Thời Sự Y Học (phát hành mỗi năm 7 số, tổng số 110.000 bản), trang web Hội – các nội dung khoa học được củng cố dần với những bài viết được đăng tải trên chuyên mục y học thường thức, y học chuyên sâu. Bên cạnh đó, Hội được Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật TP.HCM tài trợ, đã phát hành 1.000 bản của tập thơ Cây rau – vị thuốc (tác giả: BS. Huỳnh Liên Đoàn), trong tháng 10/2018.
Về công tác hợp tác trong nước và quốc tế, Hội hợp tác với Quỹ khoa học Takeda Nhật Bản để cấp học bổng tu nghiệp cho hội viên, mỗi năm 2 suất, bắt đầu từ năm 2007, đã cử 9 hội viên thuộc các hội chuyên khoa gây mê hồi sức, giải phẫu bệnh, tim mạch nhi, phẫu thuật tim mạch, nội tổng quát, răng hàm mặt. Phản hồi từ phía Takeda và phía học viên đều rất tốt, có học viên như BS. Trương Sáng Kiến và BS. Đoàn Nguyễn Minh Thiện tiếp tục chương trình học tiến sĩ.
Trong nước, Hội còn phối hợp với Tổng Hội Y Học Việt Nam tổ chức hội thảo về “Vai trò của Hội Y Học trong đào tạo liên tục cho cán bộ y tế” cho các hội y học các tỉnh phía Nam tại khách sạn Duxton (23/8/2015).
Công tác tư vấn, phản biện, Hội trao đổi với Sở Y Tế để tham vấn, cùng giải quyết một số vướng mắc trong chuyên môn và trong quản lý hành nghề, tham gia góp ý quy chế phối hợp giữa Sở Y Tế với các hội nghề nghiệp lĩnh vực y. Cử cán bộ chủ chốt tham gia với Viện Nghiên Cứu & Phát Triển Sức Khỏe Cộng Đồng nghiên cứu tình hình hành nghề y tế tư nhân tại TP.HCM; Ban điều phối Quỹ Toàn Cầu của Việt Nam về HIV/AIDS, lao, sốt rét; Hội đồng tư vấn xét cấp phép hành nghề y tư nhân; tham gia cùng đoàn đại biểu Quốc hội tại TP.HCM đóng góp cho các dự luật như: hiến xác – ghép tạng, khám chữa bệnh, phòng chống tác hại thuốc lá, Luật thủ đô; tham gia góp ý kiến với Tổng hội văn bản dự thảo hướng dẫn Luật khám chữa bệnh, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế…
Hội Y Học TP.HCM đã thu hút tập hợp được đông đảo lực lượng trí thức y khoa. Thế mạnh của Hội, đa số hội viên là các nhà khoa học và là cán bộ y tế có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, sẵn sàng cống hiến sức lực và trí tuệ cho sự phát triển thành phố và cả nước. Việc phát triển và mở rộng Hội Y Học với sự tăng trưởng của các hội chuyên khoa, thể hiện nhu cầu phát triển nội tại của các nhà khoa học, đồng thời phản ánh xu thế khách quan của sự phát triển khoa học – công nghệ trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế và nhu cầu của xã hội.
Các hội chuyên khoa và các nhà khoa học đã tham gia tích cực và có hiệu quả vào các hoạt động bồi dưỡng, đào tạo và phổ biến kiến thức khoa học, kỹ năng chuyên môn, có sự tham gia của các đồng nghiệp nước ngoài, đồng thời tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội.
Trương Thị Xuân Liễu, Chủ tịch Hội Y Học cho biết, nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu trên là do Hội Y Học đã huy động được gần như toàn bộ lực lượng khoa học và kỹ thuật trong ngành y để tham gia tư vấn, phản biện và giám định xã hội, cũng như trong chương trình nghiên cứu khoa học thảo của Tổng Hội, Liên Hiệp Hội và Sở Y Tế TP.HCM.
Tuy đạt nhiều thành tựu nhưng vẫn còn tồn tại như Hội chưa chủ động đề xuất các vấn đề quan trọng cần tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học kỹ thuật chưa tham gia đầy đủ vào công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Công tác đối ngoại tuy có phát triển mạnh nhưng chưa huy động tất cả tiềm năng hiện có của Hội và các hội chuyên khoa. Công tác liên kết, phát triển và kết hợp giữa Hội với các hội chuyên khoa cũng như giữa các hội chuyên khoa với nhau còn một số mặt hạn chế.

Từ 2014 đến 2018, Hội Y Học TP.HCM đã tổ chức 237 buổi sinh hoạt, trong đó 46 buổi với hội cấp trên, 10 buổi với đơn vị bạn, 181 buổi nội bộ (8 buổi với ban chấp hành, 10 buổi ban thường vụ, 140 buổi của ban thường trực, và 23 buổi với các hội chuyên khoa). Hội đã bảo đảm được nề nếp sinh hoạt định kỳ (1 năm, 6 tháng và 2 tuần) với các buổi họp nhằm tiếp nhận thông tin triển khai công tác để đáp ứng việc điều hành và phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Hội Y Học và các hội chuyên khoa.
Có 806 trường hợp được tặng thưởng (215 tập thể và 591 cá nhân), trong đó có 1 huân chương độc lập hạng hai, truy tặng VS.TS. Dương Quang Trung, 1 huân chương lao động hạng ba cho Hội Y Học TP.HCM, 120 bằng khen các cấp (có 5 bằng khen của Thủ tướng), 15 kỷ niệm chương, 669 giấy khen.
HỒNG DUNG

Chỉ hai thập kỷ sau khi nhận diện được virút viêm gan C (HCV), sự hiểu biết nhiều hơn về vòng đời của virút đã dẫn đến sự ra đời một số nhóm thuốc điều trị nhiều hứa hẹn. Ngay từ năm 2015, tỉ lệ đáp ứng virút-học bền vững sẽ ở tầm 90% đối với phần lớn các kiểu gen HCV, và tỉ lệ “khỏi bệnh” hữu hiệu này sẽ đạt được thông qua những những phác đồ ngắn, dùng một loại viên duy nhất, liều cố định, tiện dụng, không chứa interferon, với diện mạo tác dụng phụ tốt hơn rõ rệt so với những điều trị trước kia. Việc sử dụng những thuốc này hy vọng làm giảm cường độ theo dõi, tỉ lệ nằm viện vì tác dụng phụ, sự lệ thuộc vào chăm sóc đặc biệt, và nhu cầu nguồn lực liên quan đến tiến triển bệnh, bao gồm ghép gan và điều trị bệnh gan giai đoạn cuối và ung thư gan. Tuy nhiên, với chi phí thuốc có thể vượt quá 90.000 USD mỗi liệu trình, vẫn còn phải xem những tiến bộ to lớn này sẽ mở rộng ra sao đến 150 triệu người nhiễm HCV sống ngoài thị trường đích của những thuốc này là các nước có thu nhập cao.
HCV gây ra 28% số trường hợp xơ gan và 26% số trường hợp ung thư gan trên toàn cầu, chiếm gần 500.000 trường hợp tử vong mỗi năm (Lozano R và cs, 2012). Các nước thu nhập trung bình và thu nhập thấp chiếm hơn 80% gánh nặng HCV toàn cầu, với tỉ lệ nhiễm nhiều nhất ở Nam Á, Đông Á, Bắc Phi, Trung Đông, và Đông Nam Á (Mohd Hanafiah K và cs, 2013). Các kiểu gen HCV 4, 5, và 6 đặc biệt hay gặp ở những vùng này, nhưng các phác đồ điều trị mới có thể đạt được đáp ứng trên bệnh nhân bị nhiễm các kiểu gen này tương tự như tỉ lệ đạt được trên bệnh nhân nhiễm kiểu gen 1 vốn chiếm ưu thế ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Phần lớn bệnh nhân nhiễm HCV ở các nước thu nhập thấp và trung bình vẫn không được điều trị. Điều trị HCV trước đây đòi hỏi phải tiêm interferon hàng tuần, dùng phối hợp với ribavirin. Điều trị này có nhiều thách thức trong bối cảnh nguồn lực hạn hẹp, bao gồm chi phí interferon, các liệu trình kéo dài 6 đến 12 tháng, và các tác dụng phụ bao gồm hội chứng giống cúm, giảm các dòng huyết cầu, nhiễm khuẩn, trầm cảm, và mất bù gan. Năm 2011, thuốc kháng virút tác động trực tiếp (DAA) thế hệ thứ nhất— telaprevir và boceprevir — được phê chuẩn, và tỉ lệ đáp ứng virút-học bền vững, vốn từ 40 đến 50% với các phác đồ trước kia, tăng lên 65 đến 75%. Tuy vậy, hai thuốc này chưa được chấp nhận rộng rãi ở các nước thu nhập thấp và trung bình, vì chúng vẫn phụ thuộc vào một điều trị “xương sống” gồm interferon và ribavirin kéo dài và chỉ được chấp thuận để sử dụng chống HCV kiểu gen 1. Chúng cũng có những tác dụng phụ có ý nghĩa lâm sàng, một rào cản di truyền thấp đối với sự phát triển tính đề kháng của virút, các yêu cầu dùng thuốc đặc hữu, và nhiều tương tác thuốc—đặc biệt là khi dùng với các thuốc kháng retrovirus cần thiết trên bệnh nhân bị đồng nhiễm HIV…
Bùi Hữu Hoàng*
Gan là cơ quan đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong cơ thể, trong đó có nhiệm vụ chuyển hóa các chất. Chính vì vậy, gan có rất nhiều các loại men (enzyme) khác nhau để xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. “Tăng men gan” là tình trạng các men này bị phóng thích vào máu do tế bào gan bị hoại tử. Hay nói một cách khác, tăng men gan, đặc biệt là tăng các men transaminase trong máu là hiện tượng gián tiếp cho biết đang có quá trình viêm và hoại tử tế bào gan. Ngoài ra, các loại men khác như γ-glutamyl transferase (GGT) và phosphatase kiềm lại liên quan đến tình trạng bất thường về bài tiết ở gan.
Transaminase là các enzyme nội bào, thường tăng khi có tổn thương tế bào gan, bao gồm: men aspartate aminotransferase (AST) hay còn gọi là glutamic-oxaloacetic transaminase (SGOT). Men này có trong bào tương và ti thể ở nhiều loại tế bào (theo thứ tự giảm dần): gan, cơ tim, cơ xương, thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Do vậy, sự tăng của AST không đặc hiệu cho gan vì còn có thể do bất thường ở các nơi khác. Còn men alanine aminotransferase (ALT) hay glutamic-pyruvic transaminase (SGPT) hiện diện chủ yếu ở trong bào tương tế bào gan nên sự tăng ALT đặc hiệu hơn cho tổn thương ở gan. Chức năng của các men này là xúc tác các phản ứng chuyển gốc amin (NH2) giữa các acid amin với nhau. Aminotransferase còn có thể tăng khi có tăng tính thấm màng tế bào mà không bắt buộc phải có hoại tử tế bào gan. Mức tăng aminotransferase không giúp tiên lượng mức độ tổn thương tế bào gan. Hiện nay, giá trị bình thường của men aminotransferase được đề nghị là < 30 U/L ở nam và < 19 U/L ở nữ.
Đứng trước tình trạng tăng men gan, chúng ta cần quan tâm đến mức độ tăng ít hay nhiều, tăng ưu thế thành phần AST hay ALT vì có thể giúp hướng đến một số nguyên nhân làm tăng men gan…
Nguyễn Thy Khuê*
Rối loạn chuyển hóa lipid thường gặp nhưng không xảy ra ở tất cả bệnh nhân bị bệnh thận mạn (BTM). Các yếu tố quyết định rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân BTM bao gồm mức lọc cầu thận, có bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), tiểu đạm nặng, dùng thuốc ức chế miễn dịch, các kiểu điều trị thay thế thận (lọc máu, lọc màng bụng hay ghép thận), các bệnh đi cùng, tình trạng dinh dưỡng.
Đối với dân số chung, LDL là yếu tố nguy cơ độc lập của xơ vữa động mạch và thường được xem là mục tiêu để đánh giá rối loạn chuyển hóa lipid và điều trị, nhưng ở bệnh nhân có bệnh thận mạn, nồng độ LDL và cholesterol có thể thay đổi do tình trạng kém dinh dưỡng, mất năng lượng, hiện tượng viêm. Các nghiên cứu quan sát ở bệnh thận mạn lọc thận cho thấy nguy cơ tử vong chung và tử vong do tim mạch đều gia tăng ở nhóm có LDL cholesterol và cholesterol toàn phần thật thấp hay thật cao. Do bản chất bệnh thận mạn đã là một yếu tố nguy cơ tim mạch và các nghiên cứu điều trị rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh thận mạn nhắm vào giảm tử vong và nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch. Ủy ban về lipid của KDIGO (Kidney Disease | Improving Global Outcomes) không khuyến cáo theo dõi hiệu quả điều trị bằng LDL, nhưng có thể đo nồng độ LDL để đánh giá sự tuân trị của bệnh nhân.
Ngoài ra, trong đánh giá ban đầu bệnh nhân có bệnh thận mạn cũng cần đo bộ lipid (cholesterol, LDL-, HDL-cholesterol và triglyceride) chủ yếu là để xác định các rối loạn nặng như tăng cholesterol và/hoặc tăng triglyceride và loại trừ các nguyên nhân gây rối loạn lipid máu thứ phát có thể điều trị được. Bảng 1 trình bày các trường hợp rối loạn chuyển hóa lipid thứ phát. Nếu trong đánh giá ban đầu, nồng độ LDL > 4,9mmol/L (190mg/dL) và triglyceride > 11,3mmol/L (1000mg/dL) nên hỏi ý kiến chuyên gia để điều trị thích hợp.
Nghiên cứu điều trị lipid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn không nhiều bằng ở dân số chung, nhất là ở bệnh nhân đái tháo đường. Các rối loạn lipid máu thường gặp ở bệnh nhân bệnh thận mạn khá giống bệnh nhân ĐTĐ với tăng triglyceride, giảm HDL, cholesterol và LDL có thể tăng hoặc không tùy giai đoạn của bệnh thận mạn.
Vũ Thị Nhung*
Những nghiên cứu gần dây trên thế giới liên quan đến mổ lấy thai (MLT) đã khẳng định một lần nữa sự đúng đắn của khuyến cáo về tỉ lệ MLT của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985 là tốt nhất chỉ nên từ 5 – 10%. Khi tỉ lệ này vượt trên 15% thì tai biến sẽ xảy ra nhiều hơn cho mẹ và con.1 Theo thống kê của WHO: tỉ lệ MLT tăng từ 5-7% trong những năm 70 lên 25-30% vào năm 2003.1 Ở Hoa Kỳ hiện nay cứ 3 người sanh thì có 1 người phải mổ sanh. Mặc dù MLT có thể cứu được tính mạng của mẹ và thai nhi trong một số tình huống cấp cứu nhưng trong khi có sự gia tăng tỉ lệ MLT mà không có bằng cớ cho thấy có sự giảm bệnh suất và tử suất cho mẹ và trẻ sơ sinh. Trong khi đó lại có sự tăng tỉ lệ của những biến chứng liên quan đến MLT. Vì vậy, nhân viên y tế đặc biệt là bác sĩ phải hiểu rõ về những biến chứng gần và xa của MLT để phòng ngừa sự lạm dụng MLT nhất là trên sản phụ sanh con so.
Tình hình MLT trên thế giới và tại Việt Nam
Trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, số trường hợp sanh mổ tiếp tục tăng cao trên thế giới:
– Mỹ: tỉ lệ MLT là 21% năm 1996. Năm 2011 tỉ lệ này là 32,8%.2
– Ở các nước Âu Châu: tỉ lệ MLT hiện nay là 30%.3
– Năm 2001: Ở Anh tỉ lệ MLT là 21,4% – tăng gấp 5 lần so với năm 1971.3
– Ở các nước Châu Mỹ La Tinh: khảo sát ở 8 quốc gia cho thấy tỉ lệ MLT >30% như ở Paraguay là 42%, Ecuador là 40%.3
– Trung Quốc: Năm 1966 tỉ lệ MLT là 2,4% đến 2010 tỉ lệ này là 46%.3 Một nghiên cứu ở 9 quốc gia châu Á cho thấy MLT đã đạt đến mức độ “dịch” với tình trạng MLT không cần thiết tăng cao, trong đó, Trung Quốc có 25% các trường hợp MLT không vì lý do ykhoa.
– Ở Brazil: Bệnh viện công có tỉ lệ MLT là 35% – BV tư là 70%.3
– Ở Na Uy: tỉ lệ MLT là 1,8% (1967) tăng lên 16,4% (2006).4
Việt Nam: Tại BV Phụ Sản Trung ương, MLT vào những năm 60 là 9%, đến năm 2005 con số này tăng lên gần 40%.5
Trong cuộc khảo sát thực hiện vào năm 2007 – 2008 ở 122 bệnh viện công và tư nhân, chọn ngẫu nhiên tại các nước Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nepal, Philippines, Srilanca, Thái Lan và Việt Nam thì đứng đầu tỉ lệ MLT là Trung Quốc với tỉ lệ 46%, kế đến là Việt Nam (36%), Thái Lan (34%), Ấn Độ (18%), thấp nhất là Campuchia (15%).5
Trần Viết Thắng*
Bướu giáp nhân là bệnh lý nội tiết rất thường gặp, đứng hàng thứ hai sau bệnh đái tháo đường. Tần suất bướu giáp nhân phát hiện được qua thăm khám lâm sàng chỉ chiếm khoảng 4–7%, tuy nhiên, với sự phát triển của siêu âm, tần suất nhân giáp phát hiện qua siêu âm có thể lên đến 19–67%.1 Bướu giáp nhân thường gặp ở nữ, gấp 4 lần so với nam, tần suất bướu giáp nhân tăng theo tuổi và gặp nhiều ở vùng có thiếu hụt iod. Biểu hiện lâm sàng của bướu giáp nhân có thể chỉ là một nhân giáp nhỏ, đơn độc được phát hiện tình cờ qua khám sức khỏe tổng quát cần phải loại trừ khả năng ung thư hay là bướu giáp nhân lớn gây triệu chứng chèn ép cần phải can thiệp điều trị. Hơn 90% bướu giáp nhân là lành tính, chỉ 5–10% là ác tính. Do đó, mục tiêu của tiếp cận bệnh nhân bị bướu giáp nhân là phát hiện và điều trị phẫu thuật những bệnh nhân có bướu giáp nhân ác tính hay có triệu chứng chèn ép rõ, đồng thời tránh những điều trị không cần thiết ở những bệnh nhân có bướu giáp nhân lành tính, không có triệu chứng.
Trần Quang Khánh*
Sự xuất hiện của metformin vào năm 1957 và sau đó là các sulfonylurea (SU) hạ đường huyết thế hệ thứ nhất vào năm 1966 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong việc điều trị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Người ta nhận ra rằng có thể kiểm soát đường huyết một cách hiệu quả bằng thuốc viên mà chưa cần phải dùng đến insulin ở bệnh nhân đái tháo đường người lớn. Theo thời gian và qua thực tế lâm sàng, những ưu điểm và nhược điểm của nhóm SU được nhận biết ngày càng đầy đủ. Cùng với sự tiến bộ của y học, những nhóm thuốc điều trị ĐTĐ mới được phát triển để đáp ứng nhu cầu điều trị ngày càng cao liên quan đến hiệu quả và tính an toàn của thuốc. Ngoài vị thế “không thể thay thế được” của metformin, SU bị cáo buộc về tính an toàn, đặc biệt trên tim mạch. Các cáo buộc này được quy là có “hiệu ứng nhóm” và vì vậy cũng đã xuất hiện những ý kiến cho rằng đã đến lúc về hưu của các thuốc SU. Bài viết dưới đây cố gắng trả lời câu hỏi vì sao SU vẫn còn hiện diện trong tất cả các lưu đồ điều trị ĐTĐ týp 2 trên khắp thế giới…