Author Archives: admin

Hiểu thêm về những chế phẩm thuộc nhóm ức chế dpp-4 trong điều trị đái tháo đường týp 2 hiện nay

Lê Tuyết Hoa*


Ngoài can thiệp thay đổi lối sống (vận động và chế độ ăn và giáo dục) là phần cơ bản quan trọng, chưa lúc nào như hiện nay, thầy thuốc có nhiều thuốc điều trị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) theo đúng cơ chế. Không chỉ kiểm soát đường huyết, mà còn nhắm đến tính an toàn cho tim mạch, ít ảnh hưởng bất lợi trên lipid máu, bảo tồn được hoặc ít làm suy giảm chức năng tế bào β tụy và cải thiện tình trạng đề kháng insulin tại mô gan, cơ, mỡ, cơ tim. Tại Việt Nam danh sách các thuốc hạ đường huyết khác insulin hiện nay đã có thêm nhóm ức chế dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4).

*TS BS Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM

Pioglitazone vẫn còn chỗ đứng trong điều trị đái tháo đường?

Lê Tuyết Hoa*

*TS BS Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM


Đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 là rối loạn của nhiều thành tố như đề kháng insulin, khiếm khuyết bài tiết insulin và tăng sản xuất glucose tại gan. Các bất thường này xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau trên người ĐTĐ týp 2. Thuốc hạ đường huyết hiện có đều nhắm đến cơ chế bệnh sinh. Trong số đó, thuốc metformin và thiazolidinedione giải quyết cơ chế đề kháng insulin và giảm sản xuất đường ở gan.  Metformin ra đời vào năm 1957 nhưng mãi đến năm 1995 mới tiếp cận thị trường Hoa Kỳ. Được phát minh vài năm sau đó, thiazone, đồng vận của thụ thể PPAR-gamma, giúp mô mỡ, gan, cơ tăng nhạy cảm insulin và bảo vệ được tế bào beta.

Download pdf

Khảo sát mức độ đề kháng kháng sinh của acinetobacter và pseudomonas phân lập tại bệnh viện bệnh nhiệt đới năm 2010

Nguyễn Phú Hương Lan* Nguyễn Văn Vĩnh Châu* Đinh Nguyễn Huy Mẫn* Lê Thị Dưng*
Nguyễn Thị Thu Yến*

 

* Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới TP.HCM

Tóm tắt
Nhiễm khuẩn do trực trùng Gram âm kháng thuốc, thường do Acinetobacter và Pseudomonas, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do nhiễm trùng trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Khảo sát này thực hiện trên 181 bệnh phẩm dịch hút khí quản và 396 mẫu cấy máu dương tính tại Bệnh viện (BV) Bệnh Nhiệt Đới TP Hồ Chí Minh trong năm 2010. Trong dịch hút khí quản, Acinetobacter phân lập được với tỉ lệ cao 50,5% (92 mẫu) và Pseudomonas 31% (71 mẫu). Tỉ lệ phân lập thấp hơn trong cấy máu với Acinetobacter 4% (16 chủng) và Pseudomonas 3% (14 chủng). Pseudomonas có tỉ lệ kháng thuốc với các kháng sinh cephalosporin thế hệ III, fluoroquinolone, các phối hợp cephalosporin- thuốc ức chế b-lactamase từ 18-32% trong dịch hút khí quản và từ 0-21% trong cấy máu. Vi khuẩn này đềkháng thấp với imipenem (4,1%) và với meropenem (1,4%).
Acinetobacter đa kháng và kháng carbapenem rất cao trong dịch hút khí quản (75%) trong khi tỉ lệ này thấp hơn trong cấy máu (31%). Hầu hết các chủng kháng với imipenem cũng kháng với meropenem. Không phân lập được chủng Acinetobacter spp nào kháng colistin trong năm 2010.
Tỉ lệ Acinetobacter và Pseudomonas đa kháng thuốc phân lập được trong dịch hút khí quản với tỉ lệ cao. Kết quả thử nghiệm nhạy cảm kháng sinh cho thấy meropenem và imipenem là lựa chọn điều trị cho hai vi khuẩn này.

Abstract
An investigation of antibiotic resistance of Acinetobacter and Pseudomonas SPP. isolated at Hospital for Tropical Diseases, Hochiminh city in 2010.

Infections with multi-drug resistant Gram negative bacilli, especially Acinetobacter and Pseudomonas spp, were among the top infectious causes ofdeath all over the world as well as in Vietnamese hospitals. This study investigated on181 tracheal aspirate (TA) samples and 396 positive blood cultures collected in 2010 at Hospital for Tropical Diseases, Hochiminh City. In tracheal aspirate samples, Acinetobacter was isolated with the highest rateof 50.5% (92 specimens) and Pseudomonas of 31% (71 specimens). The figures for blood cultures were lower with 4% for Acinetobacter (16 isolates) and 3% for Pseudomonas (14 isolates).
 Pseudomonas spp were found to have resistance to cephalosporins of 3rd generation (3-G), fluoroquinolones, combinations of 3-G cephalosporin and b-lactamase inhibitors in the order of 18% to 32% in TA and less than 21% in blood samples. This pathogen had a low resistance rate to imipenem (4.1%) and to meropenem (1.4%).
 Acinetobacter spp isolated from tracheal aspirate samples were also reported to resist to various antibiotics including carbapenem at higher rate (75%)than those from blood samples (31%). The resistance rates of  Acinetobacter spp to imipenem and meropenem are almost the same. Most of the imipenem resistant strains were also meropenem resistant. There was no isolates that resisted to colistin in 2010.
Multidrug-resistant Acinetobacter and Pseudomonas spp in tracheal aspirate samples were found at large proportion. Susceptibility testing showed that meropenem and imipenem were the drugs of choice for these two resistant pathogens.

Download pdf

Mối liên quan giữa các marker chu chuyển xương và mật độ xương

Hồ Phạm Thục Lan1 Nguyễn Thanh Tòng2 Nguyễn Đình Nguyên3 Nguyễn Văn Tuấn3,4


Tóm tắt
Mật độ xương biến đổi theo độ tuổi, và mức độ biến đổi chịu sự tác động của quá trình chu chuyển xương. Hai yếu tố quan trọng trong quá trình chu chuyển xương là tế bào tạo xương và tế bào hủy xương. Cường độ hoạt động của hai loại tế bào này có thể đo lường được qua các marker chu chuyển xương. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu mối liên hệ giữa các marker chu chuyển xương và mật độ xương ở nam và nữ.
Nghiên cứu được thiết kế theo mô hình cắt ngang, với 205 nam và 432 nữ trong độ tuổi 18-87, được chọn ngẫu nhiên từ các quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Nồng độ P1NP và beta-CTX được phân tích bằng kỹ thuật miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA) qua sử dụng hệ thống Roche Elecsys 1010/2010 (Roche Diagnosis Elecsys). Ngoài ra, các đối tượng còn được đo mật độ xương bằng máy Hologic QDR Apex 4500 tại hai vị trí cổ xương đùi và cột sống thắt lưng. Mối tương quan giữa mật độ xương và P1NP và/hoặc beta-CTX được đánh giá bằng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, có điều chỉnh đối với ảnh hưởng của tuổivà trọng lượng cơ thể.
Kết quả phân tích cho thấy P1NP và beta-CTX thay đổi theo độ tuổi ở cả nam và nữ, và mức độ biến đổi ở nữ cao hơn ở nam. Phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy chỉ có marker hủy xương beta-CTX có liên quan với mật độ xương ở cả hai vị trí cổ xương đùi và cột sống thắt lưng. Người có mức độ beta-CTX càng cao thì mật độ xương càng thấp. Mối tương quan này độc lập với yếu tố tuổi và trọng lượng cơ thể. Ngược lại, không tìm thấy sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa marker tạo xương P1NP và mật độ xương. Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, các biến tuổi, cân nặng và beta-CTX giải thích khoảng 40% những khác biệt giữa các cá nhân về mật độ xương ở vị trí cổ xương đùi và 53,5% ở cột sống thắt lưng. Riêng beta-CTX giải thích 0,7% phương sai của mật độ xương cổ xương đùi và 3,1% xương thắt lưng cột sống.
Các kết quả trên cho thấy marker hủy xương tăng ở nữ sau mãn kinh nhiều hơn ở nam lớn tuổi, và marker hủy xương có tương quan tỉ lệ nghịch với mật độ xương tại cả hai vị trí cổ xương đùi và cột sống thắt lưng. Kết quả này cho thấy có thể sử dụng các marker chu chuyển xương như là một công cụ hỗ trợ cho chẩn đoán loãng xương.

Abstract
ASSOCIATIONS OF BONE TURNOVER MARKERS AND BONE MINERAL DENSITY IN ADULT DWELLERS OF HO CHI MINH CITY
Bone is an active tissue which is impacted by remodeling cycle with couple of resorptive and formative periods. These periods can be assessed by measurement of bone turnover markers.This study sought to examine an association between bone turnover markers and bone mineral density in a Vietnamese population.
The study was designed as a cross-sectional investigation, which involved 205 men and 372 women aged 18 to 87, who were randomly selected from various districts within Ho Chi Minh City. Fasting serum levels of P1NP, beta-CTX were measured by the electrochemiluminescence immunoassay (ECLIA) on the Elecsys 2010 automated analyzer (Roche). Bone mineral density (BMD) at lumbar spine (LS) and femoral neck (FN) was determined by DXA, Hologic. The association between P1NP, beta-CTX and bone mineral density was analyzed by a polynomial linear regression model.
While P1NP linearly decreased with advancing age in both men and women, beta-CTX changed with age by a complex pattern, which declined in men and women aged from 20-40, and then increased in women aged 40+ more than in men. In the linear regression model, there was a linear inverse relationship between beta-CTX and both FNBMD and LSBMD, while no association between P1NP and BMD was found. In the multiple linear regression model, age, weight and beta-CTX explained 40% and 53.5% of total variance in FNBMD and LSBMD, respectively. In which, beta-CTX accounted for 0.7% and 3.1% of changes of FNBMD and LSBMD, respectively.
In summary, these data suggest that bone turnover markers increase in postmenopausal women and elderly men. The resorption marker beta-CTX, not formation marker, was inversely associated with BMD at the femoral neck and lumbar spine. These results suggest that bone turnover markers can be used as a biochemical tool for the diagnosis of osteoporosis.

Download pdf

Trường hợp có thai đầu tiên từ phôi trữ lạnh bằng kỹ thuật thủy tinh hóa sử dụng hệ thống đóng cryopette

Nguyễn Hữu Duy1 Nguyễn Ngọc Quỳnh1,3 Huỳnh Gia Bảo2,3 Đặng Quang Vinh1,4

Tóm tắt
Đông lạnh noãn/phôi cho bệnh nhân trong một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm đã trở thành một phần không thể thiếu ở các trung tâm IVF trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp đông lạnh đang được sử dụng là đông lạnh chậm và đông lạnh cực nhanh (phương pháp thủy tinh hóa). Tuy nhiên, sử dụng phương pháp thủy tinh hóa thay cho phương pháp đông lạnh chậm đang là xu hướng chủ yếu hiện nay do có nhiều ưu điểm hơn. Trong phương pháp thủy tinh hóa, các dụng cụ chứa noãn/phôi được chia làm hai nhóm: có tiếp xúc trực tiếp với ni-tơ lỏng (hệ thống hở) và không tiếp xúc trực tiếp với ni-tơ lỏng (hệ thống đóng). Hiệu quả đông lạnh của hai hệ thống là tương đương nhau. Tuy nhiên, do tính an toàn và hiệu quả, hệ thống đóng đang dần được sử dụng phổ biến trong các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới. Mục đích của bài báo này nhằm báo cáo trường hợp có thai đầu tiên tại Việt Nam từ phôi trữ lạnh bằng kỹ thuật thủy tinh hóa sử dụng hệ thống đóng Cryopette (Origio – Đan Mạch).
Từ khóa: đông lạnh chậm, thủy tinh hóa, hệ thống hở, hệ thống đóng, cryopette

Abstract
THE FIRST CASE OF PREGNANCY FROM CRYOPRESERVATION OF HUMAN EMBRYOS BY VITRIFICATION USING CRYOPETTE (CLOSED SYSTEM)
Oocytes/embryos cryopreservation for patients in an IVF cycle has become an essential part of IVF laboratories around the world. Nowadays, two basic techniques have been employed for the cryopreservation of oocytes/ embryos: controlled slow-rate freezing and vitrification. However, the use of vitrification instead of controlled slow-rate freezing is currently the main trend due to more advantages. The carrier systems that have been developed for the vitrification procedure are divided into two groups: direct contact with liquid nitrogen (open system) and indirect contact with liquid nitrogen (closed system). The cryopreservation’s effectiveness of the two system is equivalent. Nevertheless, because of the safety and effectiveness, closed system is gradually applied widely in many IVF centers in the world. The purpose of this paper is to report the first case of pregnancy in Vietnam from embryos cryopreserved by vitrification technique using closed system Cryopette (Origio – Denmark).
Keywords: slow-rate freezing, vitrification, open system, closed system, Cryopette

1IVF Vạn Hạnh, 2IVFAS, 3A.R.T. Consulting, 4Khoa Y, ĐHQG Tp HCM

Điều chỉnh đường huyết cho người bệnh nằm khoa hồi sức tích cực

Lê Tuyết Hoa*


Trước năm 2001, tăng đường huyết trong bệnh viện thường bị bỏ qua. Nhưng một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng thực hiện tại một trung tâm ở Leuven (Bỉ) trên 1.500 BN nằm ICU ngoại báo cáo giảm 42% số tử vong nếu dùng liệu pháp insulin tích cực.(1) Kể từ đó vấn đề kiểm soát đường huyết trong bệnh viện (BV) đã được cộng đồng y khoa quan tâm rất nhiều.

*TS BS Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.HCM

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học u màng não vùng rãnh khứu

Nguyễn Văn Tấn*


Tóm tắt
Mục đích: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của u màng não vùng rãnh khứu (UMNVRK).
Phương pháp: Khảo sát 32 bệnh nhân u màng não vùng rãnh khứu được phẫu thuật vi phẫu tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 5/2008 đến 7/2010.
Kết quả: 32 bệnh nhân trong nghiên cứu gồm 9 nam và 23 nữ, tuổi từ 31 đến 72 (tuổi trung bình: 53). Triệu chứng hay gặp là nhức đầu (59%), giảm thị lực (44%), mất khứu giác, rối loạn tâm thần (đều 25%), tăng áp lực nội sọ, động kinh (đều 12,5%) và hội chứng Foster-Kennedy 6,3%. Đường kính u từ 3,5 cm đến 8,5 cm (trung bình 6,2cm). Tỉ lệ đóng vôi trong u 31,3%, phù quanh u 90,6%, chèn ép giao thị 46,9% và xâm lấn xoang sàng 9,4%. Tất cả đều được phẫu thuật lấy hết u hoàn toàn (theo phân độ Simpson I hoặc II). Không có trường hợp nào tử vong.
Kết luận: U màng não vùng rãnh khứu đa số là u lành tính, phát triển chậm, khi biểu hiện triệu chứng thì kích thước u đạt khá lớn. Hiện nay, với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học hiện đại giúp chẩn đoán sớm hơn cũng như khảo sát khối u đầy đủ về nhiều mặt trước mổ, việc điều trị phẫu thuật đã đạt kết quả rất tốt, tỉ lệ lấy hết u rất cao, tỉ lệ tử vong và biến chứng rất thấp.

Abstract
CLINICAL AND RADIOGRAPHIC FEATURES OF OLFACTORY GROOVE MENINGIOMAS: A REPORT OF 32 CASES
Objective: To investigate clinical features and radiographic presentations of olfactory groove meningiomas (OGMs) in adult patients.
Methods: An observational study of OGM cases underwent microsurgical removal using the subfrontal approach between May 2008 and July 2010 at Cho Ray hospital.
Results: A total of 32 patients (9 men and 23 women), aged 31 to 72 years old (mean age, 53) was studied. The clinical features were dominated by headache 59%, visual impairment 44%, anosmia 25%, personality changes 25%, intracranial hypertension 12.5%, seizure 12.5% and Foster-Kennedy syndrome 6.3%. The radiographic findings included calcification 31.3%, peritumor edema 90.6%, optic chiasm compression 46.9%, ethmoid sinus involvement 9.4%. The tumors were from 3.5 cm to 8.5 cm in diameter (mean, 6.2 cm). Patients were operated through the bilateral (n=27) and unilateral (n=5) subfrontal approaches Total tumor removal (Simpson Grade I or II) was achieved in all cases (100%). No death was reported.
Conclusion: Olfactory groove meningiomas are benign tumors with silent evolution, they can grow to a large size before causing symptoms. With current modern radiographic techniques, which provide preoperative essential information about the tumor, OGMs are diagnosed early. Microsurgical removal of OGMs is associated with high rate of total resection and low incidence of complications.

Download pdf

Thừa cân, béo phì và một số đặc điểm dịch tễ học ở học sinh tiểu học tại quận 10, tp.hcm năm học 2008-2009

Đỗ Thị Ngọc Diệp* Nguyễn Trí Dũng** Trần Quốc Cường*** và cộng sự                     


Tóm tắt
Đặc điểm chung: Theo tình hình kinh tế phát triển, tỉ lệ thừa cân béo phì ở học sinh gia tăng, đặc biệt là lứa tuổi tiểu học. Hiểu rõ đặc điểm về dịch tễ học sẽ góp phần rất lớn cho các nghiên cứu can thiệp nhằm hạn chế tình trạng thừa cân, béo phì ở đối tượng này.
Mục tiêu: Đánh giá tỉ lệ và một số đặc điểm dịch tễ học thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học quận 10. TP.HCM trong năm học 2008-2009.
Phương pháp: Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả làm tiền đề cho một nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng. Nghiên cứu được thực hiện vào đầu năm học 2008-2009 tại 2 trường tiểu học bán trú tại quận 10 với 2500 học sinh. Các đo lường được đánh giá bao gồm cân nặng, chiều cao, vòng eo, phỏng vấn kiến thức về dinh dưỡng của học sinh, thầy cô và phụ huynh, phỏng vấn phụ huynh về thói quen ăn uống và vận động của học sinh. Ghi nhận chế độ ăn và thực phẩm bán tại căng-tin trường.
Kết quả: Tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thiếu cân và thể còi cọc (chẩn đoán bằng BMI theo tuổi, giới và z-score chiều cao theo tuổi theo quần thể tham khảo của WHO 2007) đều rất  thấp ở hai trường (theo thứ tự là 1,4% và 0,9%), trong khi đó tỉ lệ thừa cân và béo phì khá cao (theo thứ tự là 20,8% và 7,7%). Đa số học sinh thừa cân hay béo phì đều là nam (67.1% và 91.7%).
Kết luận: Quần thể học sinh tiểu học trong nghiên cứu này có tỉ lệ thừa cân, béo phì cao. Một số đặc điểm dịch tễ học như giới tính, chế độ ăn, thói quen ăn uống, chế độ sinh hoạt ít vận động đã được tìm thấy trong khảo sát này.
Từ khóa: thừa cân, béo phì, học sinh tiểu học, can thiệp dinh dưỡng.

Abstract
EPIDEMIOLOGY OF OVERWEIGHT AND OBESITY IN GRADE-SCHOOLERS IN DISTRICT 10 , HO CHI MINH CITY IN THE SCHOOL YEAR 2008-2009:

Background: In recent years, the prevalence of obesity in grade-schoolers is increasing significantly in Ho Chi Minh City. Comprehensive information about the epidemiology of overweight and obesity will provide rationale for an effective community intervention study on this topic.
Objectives: To evaluate the prevalence and epidemiology of overweight and obesity in grade-schoolers in District 10 in the school year 2008-2009.
Method: This is a cross-sectional descriptive study with the intention to prepare for a randomized controlled community intervention study. The study was implemented in the school year 2008-2009 at two primary schools in District 10 Ho Chi Minh City, Viet Nam, with a total number of 2500 pupils aged from 6 to 10 years. Baseline measurements included weight; height; waist circumference; physical activity and diet habit; knowledge on nutrition of pupils, teachers and parents; investigation of school lunch and food available at school canteens.
Results: The prevalence of underweight and stunting according to WHO 2007 reference were quite low (1.4% and 0.9%, respectively). The prevalence of overweight and obesity were so high (20.8% and 7.7%, respectively). Most of overweight (67.1%) and obesity (91,7%) subjects were males.
Conclusion: High prevalence of overweight and obesity are found in this grade-schooler population. Some presumed relevant epidemiological factors are also recorded such as sex, food consumption and dietary habits, physical inactivity.
Key words: overweight, obesity, grade-schoolers, nutritional intervention.

*BS Giám đốc Trung tâm Dinh Dưỡng TP.HCM
**BS Phòng Nghiệp vụ , Sở y tế
***BS Trung tâm Dinh Dưỡng TP.HCM

Giải nobel sinh lý-y học năm 2011

Ngày 3/10/2011, Hội đồng Nobel gồm 50 giáo sư tại của Viện Karolinska (Thụy Điển) đã quyết định trao giải Nobel Sinh lý/Y học cho ba nhà khoa học Bruce A. Beutler, Jules A. Hoffmann và Ralph M. Steinman về những khám phá trong sự kích hoạt miễn dịch bẩm sinh và sự phát hiện tế bào tua và vai trò của nó trong miễn dịch thích nghi.

Download pdf